vanban.org

Bản án 28/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H , giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.

[2].Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H , giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HS - PT
Ngày 12 – 7 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Duy Lam

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2021/TLPT - HS ngày 12 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Ngô Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS - ST ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện I , tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Ngô Thị H ,: sinh ngày 6/11/1984, tại huyện I , tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn Plei Du, xã C , huyện I , tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Ngô Văn N (đã chết) và con bà Lường Thị M (đã chết). Gia đình bị cáo có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Có chồng là Dương Xuân H1, sinh năm 1985. Vợ chồng bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2019 đến ngày 26/12/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; Bị bắt tạm giam lại ngày 06/3/2020 đến ngày 03/4/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt (Bị cáo có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

Về nhân thân: Trong thời gian tại ngoại, ngày 06/3/2020 bị bắt về hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm với số tiền thu trên cH 2 bạc là 2.320.000 đồng.Bị Công an huyện I xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng, tại Quyết định số 0014862/QĐ – XPHC ngày 25/9/2020.

Trong vụ án này còn có 11 (mười một) bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 25 tháng 11 năm 2019, Ngô Thị H , Ngô Thị Bích Ng1đến nhà Hiao H’ Y1 (em dâu của H) tại thôn Plei Du, xã C , huyện I để chơi. Tại đây, H rủ Ng 1 và góp mỗi người 1.000.000 đồng để cùng làm cái xóc bầu cua ăn thua bằng tiền với người khác thì được Ng 1 và H’ Y1 đồng ý. Hiao H’ Y1 nói với H “lúc này em không có tiền”, H nói “hiện chị đang nợ em 1.000.000 đồng, để chị bỏ ra góp cho em” nên H’ Y1 đồng ý, còn Ngô Thị Bích Ng1 tuy đồng ý góp 1.000.000 đồng nhưng chưa đưa tiền cho H lúc này và hứa sẽ đưa sau. Cả ba người thống nhất đến ngày 26 tháng 11 năm 2019 sẽ thực hiện việc đánh bạc bằng hình thức xóc bầu cua ăn tiền tại sân có mái che phía sau nhà chị Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 1990) ở thôn Plei Du, xã C , huyện I , tỉnh Gia Lai với các con bạc khác, nếu thắng bạc số tiền này sẽ được chia đều cho từng người.

Khoảng 07 giờ ngày 26 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Trung H 2 đến ăn sáng tại quán “Dung Lỳ” ở thôn Plei Du, xã C , huyện I . Tại đây, H 2 gặp Ngô Thị H và thấy H cầm bì ni lông đựng bộ dụng cụ để xóc bầu cua nên H 2 hỏi H “chị mua làm gì vậy”, H trả lời “mua để chơi bầu cua với những người trong làng”, ăn sáng xong H 2 đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày H 2 gọi điện thoại cho H xin cùng góp tiền để làm cái xóc bầu cua ăn thua bằng tiền thì H đồng ý, khoảng một tiếng sau H 2 đến nhà H đưa cho H số tiền 1.000.000 đồng, (lúc này Ng 1 và H’ Y1 đã xuống nhà chị Nguyễn Thị Thu T trước) H nhận tiền và nói H 2 cùng với Ng 1 và H’ Y1 lát nữa đến nhà chị T để đánh bạc, H nói với Ng 1 đưa trước cho H 2 500.000 đồng để làm vốn và giao cho H 2 cầm cái xóc bầu cua, Ng 1 và H’ Y1 giám sát việc đánh bạc. Về phần H tuy rủ rê Ng 1 , H’ Y1 và H 2 góp mỗi người 1.000.000 đồng để làm cái nhưng thực tế chỉ có H 2 góp trước cho H 1.000.000 đồng, còn H’ Y1 góp số tiền 1.000.000 đồng mà H đã nợ trước đó (gán nợ), Ng 1 thì chưa góp tiền. Do lúc này H không có tiền, Ngô Thị Bích Ng1chưa góp tiền vốn làm cái như thỏa thuận trước đó nên H đã đến nhà chị Phùng Thị Liên K, sinh năm 1991, (trú cùng thôn với H ) mượn 3.000.000 đồng để làm cái xóc bầu cua ăn tiền (tương ứng với H , Ng 1 và H’ Y1 mỗi người 1.000.000 đồng). Sau khi Ngô Thị H có 4.000.000 đồng trong tay sẽ cùng Nguyễn Trung H 2, Ngô Thị Bích Ng1và Hiao H’ Y1 thay nhau cầm cái xóc bầu cua ăn tiền với những con bạc khác.

Khoảng 10 giờ ngày 26 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Trung H 2 đến sau nhà chị T và gặp Ngô Thị Bích Ng1đang ở đây. H 2 thấy tại đây có bộ dụng cụ đánh bầu cua gồm: 01 bộ bát, đĩa bằng kim loại, 03 quân vị bằng giấy hình hộp vuông cạnh khoảng 2cm, 06 mặt đều dán giấy tương ứng với hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 01 tấm bìa cát tông bằng giấy màu vàng có kích thước (70 x 50)cm có dán các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, do trước đó H mang tới nên H 2 ngồi vào sử dụng để cầm cái đánh bạc. Trước khi vào cầm cái xóc bầu cua thì Ng 1 đưa cho H 2 500.000 đồng để làm vốn, H 2 nhận tiền rồi cầm cái xóc cho Đinh Tuấn Anh, Phạm Thị H 3 , Phạm Văn D 5và một số đối tượng là người dân tộc thiểu số (chưa rõ lai lịch) đến ngồi vào đặt tiền chơi ăn thua với H 2. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Ngô Thị H đến thay H 2 cầm cái xóc để cho H 2 đi ăn cơm (trước khi về H 2 giao lại cho H với số tiền khoảng 500.000 đồng để H tiếp tục cầm cái), lúc này tại chị thủy có thêm có thêm Phạm Văn D , Nguyễn Văn T1 , Nguyễn Quang T2 , Trần Văn T3 , Nguyễn Thị Ng 2 và Ngô Thanh B cùng tham gia đặt tiền đánh ăn thua với H , còn Ng 1 và H’ Y1 có nhiệm vụ quan sát những người đặt tiền chơi với cái là H 2 và H .

Sòng bạc hoạt động liên tục đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì Phạm Thị H 3 , Phạm Văn D 5và Nguyễn Văn T1 nghỉ đi về nhà trước, các con bạc còn lại tiếp tục ngồi đánh bạc cho đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện I phát hiện bắt quả tang đối với Ngô Thị H , Ngô Thị Bích Ng 1 , Hiao H’ Y1 , Trần Văn T3 , Ngô Thanh B , Nguyễn Thị Ng 2 và Phạm Văn D . Riêng Nguyễn Quang T2 vàĐinh Tuấn A khi thấy Công an bắt quả tang vụ đánh bạc lợi dụng đông người nên đã rời khỏi hiện trường. Công an huyện đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tại chiếu bạc tiền mặt 2.500.000 đồng, thu trên người Ngô Thị H là 4.210.000 đồng, Nguyễn Thị Ng 2 là 500.000 đồng, Phạm Văn D là 7.040.000 đồng, Ngô Thanh B là 5.370.000 đồng; 01 đĩa bằng kim loại, 01 bát bằng kim loại, 03 quân vị bằng xốp hình hộp vuông cạnh 02cm, 06 mặt đều dán giấy hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 01 tấm bìa cát tông bằng giấy màu vàng có kích thước (70 x 50)cm có dán các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Tổng cộng số tiền tạm giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng là 19.620.000 đồng. Tại biên bản phạm tội quả tang các đối tượng đã khai nhận sử dụng số tiền thu trong người để sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.330.000 đồng gồm: H 4.210.000 đồng; Ng2 là 100.000 đồng; D là 3.950.000 đồng và B là 70.000 đồng.

Sau khi vụ án xảy ra, ngày 27/11/2019 Phạm Thị H 3 và Phạm Văn D 5 tự nguyện đến Công an huyện I đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc vào ngày 26/11/2019, H3 khai nhận sử dụng số tiền 30.000 đồng, D5 khai nhận sử dụng số tiền 3.350.000 đồng vào việc đánh bạc; ngày 04/01/2020 Nguyễn Quang T2 đến Công an huyện I trình diện, khai nhận sử dụng số tiền 100.000 đồng tham gia đánh bạc ngày 26/11/2019; Nguyễn Văn T1 khai nhận sử dụng số tiền 70.000 đồng tham gia đánh bạc ngày 26/11/2019.

Quá trình điều tra, tất cả các đối tượng đều khai nhận có tham gia đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức xóc bầu cua tại nhà chị Nguyễn Thị Thu T vào ngày 26 tháng 11 năm 2019, từng đối tượng khai nhận đã sử dụng số tiền đánh bạc như sau: Ngô Thị H 4.210.000 đồng (số tiền này là của H , H 2, Ng 1 và H'Yĩ góp vào để làm cái); Nguyễn Thị Ng 2 là 100.000 đồng; Phạm Văn D là 3.950.000 đồng; Ngô Thanh B là 170.000 đồng; Trần Văn T3 là 150.000 đồng; Phạm Thị H 3 là 30.000 đồng; Phạm Văn D 5là 3.350.000 đồng; Nguyễn Quang T2 là 100.000 đồng và Nguyễn Văn T1 là 70.000 đồng. Tổng cộng là 12.130.000 đồng.

Hình thức đánh bạc “xóc bầu cua” được các con bạc quy định mỗi ván người cầm cái để 03 quân vị (hạt bầu cua) lên đĩa, úp bát lại và tiến hành xóc rồi đặt xuống, những người tham gia đánh bạc đặt tiền cược lên tấm bìa cát tông ở các ô bầu, cua, tôm, cá, gà, nai theo ý của mình để ăn thua với cái và số tiền đặt thấp nhất mỗi ván từng con bạc đặt từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. Mỗi ván chơi không nhất thiết tất cả mọi người cùng đặt tiền, nên tổng số tiền đặt trong một ván của các con bạc đặt thấp nhất khoảng 200.000 đồng và đặt cao nhất khoảng 600.000 đồng. Sau khi các con bạc chọn ô đặt tiền xong thì cái mở bát ra nếu mặt trên của các quân vị tương ứng với hình tại ô các con bạc đặt tiền thì cái phải chung tiền cho người đặt và ngược lại.

Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKS, ngày 18/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I , tỉnh Gia Lai truy tố: Các bị cáo Ngô Thị H , Hiao H’ Y1 , Nguyễn Trung H 2, Ngô Thị Bích Ng 1 , Trần Văn T3 , Nguyễn Thị Ng 2 , Phạm Văn D5, Phạm Thị H 3 , Ngô Thanh B, Nguyễn Quang T2 , Nguyễn Văn T1 và Phạm Văn D , về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS - ST ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện I , tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Thị H 08 (Tám) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2019 đến ngày 26/12/2019 và từ ngày 06/3/2020 đến ngày 03/4/2020. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xét xử 11 bị cáo khác về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, trong đó: 01 bị cáo hình phạt tù có thời hạn, 10 bị cáo xử phạt tù nhưng được hưởng án treo; Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Ngô Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

2.Diễn biến tại phiên toà:

Bị cáo Ngô Thị H vắng mặt tại phiên toà.

-Quan điểm của giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Bị cáo Ngô Thị H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, tại phiên toà hôm nay bị cáo vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự

Đối với kháng cáo của bị cáo: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo hình phạt 08 (Tám) tháng tù là phù hợp, có tính phân hoá, tương xứng với vai trò, tính chất của hành vi, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo mới sinh con vào ngày 17/6/2021, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của BLHS, tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân, vai trò của bị cáo, yêu cầu phòng, chống tội phạm đánh bạc tại địa phương thì thấy rằng hình phạt 08 thang tù đối với bị cáo là phù hợp, thoả đáng. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.

Vì các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1 Bị cáo Ngô Thị H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, tại phiên toà hôm nay bị cáo vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc bị cáo H vắng mặt là có lý do chính đáng, bị cáo đã có đầy đủ lời khai tại cấp sơ thẩm và việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, tại phiên toà sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án: Đủ cơ sở khẳng định, vào ngày 26/11/2019, Ngô Thị H đang có hành vi đánh bạc với các đồng phạm khác bằng hình thức xóc bầu cua tại thôn Plei Du, xã C , huyện I thì bị bắt quả tang, kết quả điều tra xác định được có 13 người cùng tham gia đánh bạc, số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 14.210.000đồng. Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ngô Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, chồng của bị cáo là anh Dương Xuân H1 có cung cấp cho Toà án tài liệu “Giấy chứng sinh” có xác nhận của Trung tâm y tế huyện I , thể hiện vào ngày 17/6/2021, Ngô Thị H có sinh thêm một người con, việc này cho thấy thời gian trước khi mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án này bị cáo đang có thai, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự chưa được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo; tuy nhiên, xét vai trò của bị cáo H trong vụ án này là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc, chuẩn bị công cụ cho việc đánh bạc, trực tiếp cầm cái xóc bầu cua trong quá trình đánh bạc; trong thời gian được tại ngoại, bị cáo không ăn năn, hối cải mà lại tiếp tục có hành vi đánh bạc, bị xử lý hành chính, nên hình phạt 08 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, vì vậy,Hội đồng xét xử không giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy, do sau khi phạm tội đánh bạc bị cáo tiếp tục có hành vi đánh bạc và bị xử lý hành chính, cho thấy bị cáo không có ý thức tự rèn luyện, cải tạo mình, do vậy mà việc áp dụng chế định án treo đối với bị cáo sẽ không có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phì hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H , giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Thị H 08 (Tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, được khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2019 đến ngày 26/12/2019 và từ ngày 06/3/2020 đến ngày 03/4/2020.Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

[2].Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ