vanban.org

Bản án 28/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 05/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu huỷ 0,1219g ma tuý heroine, 02 lọ nước cất và 02 chiếc xi lanh nhựa cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự). Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt N và đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu huỷ 0,1219g ma tuý heroine, 02 lọ nước cất và 02 chiếc xi lanh nhựa cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HS-ST
Ngày 05 tháng 3 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Quách Thị Hoàng Giang

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Sái Văn Trọng và Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2021/HS-ST ngày 08 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Việt N, sinh ngày 03/8/1975 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 4, khu H T, phường D L, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc X (đã chết) và bà Dương Thị E; vợ: Dương Thị Thúy H, con: Có 03 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Tại Bản án số 183/2014/HSST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Việt N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 18 tháng. Ngày 01/10/2014 chấp hành xong án phí, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

2. Nguyễn Hồng T, sinh ngày 22/02/1966 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 22B, Phố T M, phường T C, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến N và bà Đinh Thị L (đã chết); vợ: Phạm Thị Minh H (đã ly hôn), con: Có 02 con (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1993); Tiền án: 01. Tại Bản án số 185/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hồng T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 30/11/2017 chấp hành xong án phí. Ngày 31/8/2019 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 6, phường D L, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 03/11/2020, tại khu vực đô thị Vạn Cát thuộc tổ dân phố Vĩnh Ninh, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và lập biên bản sự việc quả tang đối với Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm có: Thu giữ tại túi áo khoác bên trái N đang mặc 01 gói giấy nhỏ bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật ký hiệu A1 (N và T đều tự khai nhận đó là gói ma túy Heroin của N và T vừa mua để cùng sử dụng cho bản thân). Ngoài ra còn tạm giữ của N và T 02 chiếc xilanh; 02 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, BKS: 19P1-006.91. Sau đó Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, đưa N và T về trụ sở làm việc và bàn giao hồ sơ, các đối tượng có hành vi vi phạm đến Công an thành phố Vĩnh Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 2858/KLGĐ ngày 06/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“ Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1649g (không phảy một sáu bốn chín gam, không kể bao bì) loại Heroine.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu tại phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, gồm: 0,1219 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả”.

Về nguồn gốc 01 gói ma túy (Heroine) thu giữ của Nguyễn Việt N, quá trình điều tra N và T đều khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 03/11/2020, N đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy Heroin nên N một mình điều khiển xe máy BKS 19P1-006.91 đến quán nước của T (là bạn nghiện ma túy với N) ở gần chợ trung tâm thành phố V T, tỉnh Phú Thọ rủ T cùng đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe máy BKS 19P1-006.91 chở N ngồi sau đi từ thành phố V T đến thành phố Vĩnh Yên để mua ma tuý. Trên đường đi, T dừng xe tại một hiệu thuốc (không nhớ rõ địa chỉ, chỉ biết thuộc phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên) rồi N xuống xe đi bộ vào trong hiệu thuốc mua 02 chiếc xilanh và 02 lọ nước cất mục đích làm công cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe máy chở N đến khu vực đầu đường phố Chiền thuộc địa phận phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên thì dừng xe lại, N xuống xe rồi một mình đi bộ sang bên đường gặp 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, tuổi và địa chỉ) và mua được của người phụ nữ này 01 gói ma túy Heroin với giá 170.000đ. Sau khi mua được ma túy, N cất gói ma túy Heroin vào túi áo khoác bên trái N đang mặc và quay lại chỗ T đứng chờ rồi T điều khiển xe máy chở N đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi đi đến một bãi đất trống trong khu đô thị Vạn Cát thuộc phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên thì T dừng xe lại. Trong lúc N và T đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an kiếm tra phát hiện và thu giữ gói ma túy cùng các vật chứng có liên quan.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSTPVY ngày 04/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Việt N, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt N từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2020; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng T xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2020. Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,1219g ma tuý heroine và 02 chiếc xi lanh nhựa, 02 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ

̃, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 03/11/2020, tại khu đô thị Vạn Cát thuộc Tổ dân phố Vĩnh Ninh, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy qua giám định là Heroin có khối lượng là 0,1649gam để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân thì bị Tổ công tác của Công an phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên kiểm tra phát hiện và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tinh tiết tăng̀ nặng, giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự̀

và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:

Các bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Việt N là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo đồng phạm thực hiện tội phạm, bị cáo Nguyễn Hồng T là đồng phạm tham gia tích cực nhưng vì không có sự phân công, bàn bạc nên đây là đồng phạm giản đơn và các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà mình đã thực hiện. Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2014 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt bị cáo N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, đối với bị cáo T năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Thành 30 tháng tù vể tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện bị cáo chưa được xóa án tích. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa những sai lầm của mình để làm ăn chân chính mà tiếp tục phạm tội chứng tỏ các bị cáo là đối tượng rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương.

Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã “Thành khẩn khai báo” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Việt N có bố mẹ đẻ được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy bị cáo được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Trước khi phạm tội bị cáo Nguyễn Hồng T có 01 tiền án Bản án số 185/2017/HSST ngày 29/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Hồng T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. T chấp xong hình phạt tù ngày 31/8/2019, đến ngày 03/11/2020 chưa được xóa án tích la ̣i tiếp tu ̣c pha ̣m tô ̣i, vi vâ ̣̀ y lần phạm tội này của bị cáo bi ̣ áp du ̣ng tinh tiết tăng nă ̣̀

ng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Việt N ngày 03/11/2020, quá trình điều tra N và T đều khai qua bạn bè xã hội nói chuyện và chỉ dẫn ở khu vực đầu đường phố Chiền, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên có người phụ nữ khoảng 30 tuổi thường đứng đó bán ma túy nên ngày 03/11/2020 N đến tìm gặp và hỏi mua của người phụ nữ này 01 gói ma túy (Heroin), tuy nhiên khi bán ma túy người phụ nữ đeo khẩu trang nên N không rõ họ tên, tuổi cũng như đặc điểm nhận dạng của người này, ngoài ra đây cũng là lần đầu tiên N mua ma túy của người phụ nữ này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên về người nữ giới có đặc điểm nhận dạng như lời khai của N, kết quả rà soát xác minh nhưng chưa xác định được. Ngoài lời khai của N thì cũng không có tài liệu nào xác định nhân thân, lai lịch người nữ giới đã bán ma túy cho N. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với xe máy nhãn hiệu Yamaha, màu sơn trắng, BKS 19P1-006.91 tạm giữ của Nguyễn Việt N, quá trình điều tra xác định xe máy này chị Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1970, trú tại: thôn Tầm Vòng, xã Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ mua mới và đăng ký mang tên chị Duyên từ tháng 3/2011. Đến cuối năm 2018, chị Duyên bán lại xe máy này cho anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1991, trú tại: Tổ 6, phường D L, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ (là cháu của Nguyễn Việt N). Sau khi mua xe anh A không làm thủ tục sang tên và sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 03/11/2020, N mượn anh A xe máy để đi giải quyết công việc sau đó tự ý sử dụng xe máy này đi mua ma tuý để sử dụng anh A không biết. Ngày 20/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên đã có Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho anh A, cùng ngày anh A đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 0,1219 gam ma túy Heroin và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 02 chiếc xilanh và 02 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Việt N và Nguyễn Hồng T, quá trình điều tra xác định đây là công cụ để N và T sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,1219g ma tuý heroine và 02 chiếc xi lanh nhựa, 02 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt N 02 (hai) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 03/11/2020.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 02 (hai) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 03/11/2020.

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 0,1219g ma tuý heroine, 02 lọ nước cất và 02 chiếc xi lanh nhựa cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Việt N, Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sái Văn Trọng

Vũ Thị Kim Dung

Quách Thị Hoàng Giang

Cỡ chữ