- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA __________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/HS-ST Ngày 02 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Đinh Công Ó.
2. bà Đinh Thị Minh Thúy.
- Thư ký phiên toà: bà Lê Khánh Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên tham gia phiên toà: bà Đinh Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2021/TLST – HS, ngày 02 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST – HS, ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
- Phàng A C (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại xã K, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: bản T, xã K, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Phàng A H (đã chết) và con bà Vàng Thị L (đã chết), có vợ là Thào Thị P, sinh năm 1971 và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2012). Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 41/HSST, ngày 26/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 03 (Ba) tháng tù giam về tội Không tố giác tội phạm; Tại bản án số 33/HSST, ngày 31/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2020 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo: anh Mùa A Sáy, sinh năm 1987; Dân tộc: Mông. Công tác tại Phòng văn hóa và thông tin huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Suối Cáy, xã Suối Bau, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 21/12/2020, tổ công tác Công an xã K, huyện Phù Yên làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính tại khu vực bản T, xã K, huyện phát hiện và bắt quả tang Phàng A C đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý (Phàng A C khai nhận tàng trữ số ma túy trên để sử dụng cho bản thân).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) gói chất bột màu trắng dạng cục, nghi là ma túy heroine bên ngoài được gói bằng ni lon màu hồng.
Ngày 22/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Yên đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả:
- Bóc mở phòng bì bên trong có một gói ni lon, ngoài cùng là lớp nilon màu hồng được cuốn bằng sợi dây màu trắng bên trong là các cục bột và chất bột màu trắng; Cân tách bì toàn bộ số chất bột màu trắng có khối lượng 0,12 (Không phảy mười hai) gam, lấy toàn bộ chất bột màu trắng có khối lượng 0,12g cho vào một túi ni lon làm mẫu giám định ký hiệu C1.
Cùng ngày 22/12/2020 cơ quan điều tra công an huyện Phù Yên ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy số 194/QĐ-ĐCSKT-MT gửi phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 90, ngày 25/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định kí hiệu C1 là ma túy, loại Heroine. Khối lượng của mẫu gửi giám định 0,12 gam; Hoàn lại đối tượng giám định: chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C1, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,06g”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phàng A C khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 19/12/2020 bị cáo đi bộ đến nhà anh Phàng A S, sinh năm 1994 ở cùng bản T, xã K, huyện Phù Yên để hỏi mua ma túy về sử dụng, đến nhà gặp S bị cáo hỏi “có ma túy không, bán cho chú một ít”, S trả lời “có”, bị cáo đã đưa cho S 100.000,đ, S nhận tiền rồi đưa cho bị cáo 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng ni lon màu hồng, bị cáo nhận ma túy rồi đi về nhà, sau khi mua được ma túy bị cáo đã sử dụng hai lần, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu với mục đích để sử dụng dần. Đến ngày 21/12/2020 bị cáo mang theo gói ma túy trên cho vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi bộ đến nhà anh Thào A D, sinh năm 1996 (trưởng bản T, xã K, huyện Phù Yên để có việc, trên đường đi đến nhà anh Thào A D thì bị tổ công tác công an xã K kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 07/CT - VKS, ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Phàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phàng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Xử phạt bị cáo Phàng A C từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của Công an huyện Phù Yên, mặt trước ghi: Vật chứng vụ Phàng A C – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu + mảnh ni lon + sợi dây màu trắng có gói chất nghi ma túy và 01 phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành dán kín niêm phong, bên trong có 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C1, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,06 gam.
Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Phàng A C nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tố tụng: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, khả năng nghe, nói tiếng phổ thông (tiếng Việt) còn hạn chế và không biết chữ, để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo cũng như để khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, Tòa án đã yêu cầu người phiên dịch tiếng dân tộc Mông) là ông Mùa A Sáy (dân tộc Mông), sinh năm 1987; Công tác tại Phòng văn hóa và thông tin huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Suối Cáy, xã Suối Bau, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, ông Mùa A Sáy đã tham gia phiên tòa và đã cam đoan phiên dịch trung thực, vô tư, khách quan và giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, là phù hợp với quy định theo điều 70, 263, 295 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội: Ngày 21/12/2020, Phàng A C đã có hành vi cất giấu trái phép 0,16 gam heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản T, xã K, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 21/12/2020 tại khu vực bản T, xã K, huyện Phù Yên đối với Phàng A C cùng vật chứng thu giữ; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 90, ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Giàng A D, sinh năm 1992 và anh Giàng A S, sinh năm 1985, đều trú tại bản K, xã K, huyện Phù Yên là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Phàng A C tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng chất ma túy là 0,16 gam heroine, đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình và phạm tội với lỗi cố ý.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 41/HSST, ngày 26/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 03 (Ba) tháng tù giam về tội Không tố giác tội phạm; Tại bản án số 33/HSST, ngày 31/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo là người biết rõ tác hại của ma túy bị pháp luật và xã hội nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo Phàng A C là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định, thu nhập phụ thuộc vào trồng trọt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
Đối với 0,06 gam heroine còn lại là chất ma túy bị pháp luật Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ và 01 phong bì của Công an huyện Phù Yên, mặt trước ghi: Vật chứng vụ Phàng A C – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong có 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu + mảnh ni lon + sợi dây màu trắng có gói chất nghi ma túy và 01 (Một) phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong có 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở, là vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông tên là Phàng A S, sinh năm 1994, trú tại bản T, xã K, là người bán ma túy cho Phàng A C. Quá trình điều tra xác định tại bản T, xã K, huyện Phù Yên có người tên là Phàng A S, sinh năm 1994, nhưng hiện nay S không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền không ai biết S ở đâu, làm gì, ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh S bán ma túy cho bị cáo C do vậy chưa đủ căn cứ để điều tra, xử lý mở rộng vụ án. Kiến nghị cơ quan điều tra công an huyện Phù Yên xác minh xử lý đối với Phàng A S nếu có đủ căn cứ.
Về án phí: Bị cáo C là thuộc diện hộ nghèo, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Phàng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phàng A C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2020).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì của Công an huyện Phù Yên, mặt trước ghi: Vật chứng vụ Phàng A C – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu + mảnh ni lon + sợi dây màu trắng có gói chất nghi ma túy và 01 (Một) phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành dán kín niêm phong, bên trong có 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C1, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,06 (Không phải không sáu) gam.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 26/BB – GNVC, ngày 02/02/2021 giữa Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phàng A C.
Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phàng A C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/3/2021);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên (2); - Chi cục THADS Phù Yên; - THAHS; - Công an huyện Phù Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu HS, VT; | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Lương Anh |