vanban.org

Bản án 28/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy Ng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
́
HUYỆN M’ĐRĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 28/2021/HS-ST
Ngày 22 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hải;

Các hội thẩm nhân dân: ông Y Đo Niê, ông Nguyễn Thành Thông;

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 với bị cáo:

Bùi Duy Ng sinh ngày 28/8/1992 tại tại: Tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Bùi Duy H (đã chết) và bà Hồ Thị Th; Có vợ Trương Thị Nh và có 01 con. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Phạm Xuân T sinh năm 2004. Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Anh Tạo có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Lê Nguyễn Nhật Hg sinh năm 2002. Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Anh Hưng có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Đặng Hoàng Kim S sinh năm 2002. Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Anh Sơn có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Hoàng Nhất V sinh năm 2000. Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Anh Hồ Văn Lam, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Duy Ng quen biết đối tượng Nguyễn Chí C (không rõ nhân thân) trong lúc làm công việc thời vụ vào năm 2019, thỉnh thoảng có nhắn tin cho nhau qua qua mạng xã hội Facebook. Ngày 20/5/2021, Ngọc nhắn tin qua Facebook Nguyễn Chí C, nhờ C mua giúp ma túy loại cần sa. Ngày 02/6/2021, C nhắn tin cho Ng báo đã tìm được chỗ mua cần sa. Ng nhờ C mua 300.000đồng cần sa và nhắn tin yêu cầu C gửi ma túy cho Hồ Văn L là tài xế xe dịch vụ để L vận chuyển về cho Ng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, L giao cho Ng hộp bằng kim loại bên trong có chứa 07 bông cần sa. Từ ngày 02/6/2021 đến ngày 10/6/2021, Ng đã sử dụng hết 3 bông cần sa bằng hình thức hút, còn lại 4 bông Ng cất giấu trong tủ phòng khách để sử dụng dần và bán cho ai có nhu cầu.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/6/2021, Lê Nguyễn Nhật H nhắn tin cho Đặng Hoàng Kim S hỏi S biết chỗ nào mua ma túy cần sa không. S nhắn tin cho Phạm Xuân T, nhờ T mua giúp cần sa để S, H cùng sử dụng. T nhắn tin cho Ng hỏi mua 100.00đồng cần sa. Ng đồng ý bán 01 bông với giá 100.000đồng. T nhắn tin cho S báo tin mua được cần sa của Ng, S nhắn tin báo cho H biết và nói H liên lạc với T qua Facebook để mua ma túy cần sa. H đưa 100.000đồng cho T để mua giúp. T với H sang nhà Ng, Ng giao cho Tạo 02 bông trên 01 nhánh cần sa với giá 100.000đồng. S chở T và H đến nhà Hoàng Nhất V. Do V vắng nhà, H và S tự mở cửa vào nhà V cùng nhau sử dụng cần sa. Do sợ bị nghiện nên T chỉ ngậm khói cần sa trong miệng rồi nhả ra. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an thị trấn M’Đrắk kiểm tra nhà V phát hiện H và S có biểu hiện sử dụng ma túy và đã lập biên bản và tạm giữ số mẫu vật để giám định và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk để xử lý theo thầm quyền. Bùi Duy Ngc đã tự nguyện giao nộp 02 bông ma túy cần sa, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk thu giữ và niêm phong vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 718/GĐMT-PC09 ngày 02/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:

- Mẫu vật thu giữ tại nhà Hoàng Nhất V ở TDP 1, thị trấn M’Đrắk gồm lá, ngọn cây khô được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại cần sa có khối lượng 3,5108gram.

- Mẫu vật thu giữ tại nhà Bùi Duy Ng gồm lá, ngọn cây khô được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại cần sa có khối lượng 1,8954gram.

* Vật chứng tạm giữ: 4,6252 gram ma túy loại cần sa (Mẫu vật hoàn lại sau khi giám định, niêm phong theo quy định); 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng . 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ của Bùi Duy Ng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS thu giữ của Lê Nguyễn Nhật H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus thu giữ của Đặng Hoàng Kim S; 01 hộp bằng kim loại dạng hình lục giác, màu đen là hộp đựng cần sa của Ng.

*Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk truy tố bị cáo Bùi Duy Ng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).

* Tại phiên toà, bị cáo khai: Bị cáo quen với C khi cùng làm công việc rửa xe tại tập đoàn cà phê Trung Nguyên tại huyện M’Đrăk trong khoảng thời gian 6 tháng, sau đó cả hai đều nghỉ việc. Ng không biết nhân thân lai lịch của C mà chỉ biết gia đình C sống tại thành phố Buôn Ma Thuột. Đầu năm 2021, Ng bắt đầu hút thử cần sa. Do không biết chỗ mua cần sa, Ng nhắn tin cho C qua Facebook, nhờ C hỏi mua giúp cần sa cho Ng. Ngày 02/6/2021, C mua giúp cho Ngọc 07 bông cần sa khô với giá 300.000đồng. Ng đưa số điện thoại của L cho C để C chủ động liên hệ với L (lái xe dịch vụ) gửi cần sa về cho Ng. Ng đã hút hết 03 bông cần sa, còn lại 4 bông. Ngày 11/6/2021,T hỏi mua cần sa, Ng đồng ý bán 01 bông cho T với giá 100.000đồng. T và H đến nhà Ng lấy cần sa thì Ng đưa cho T 01 cành trên đó có 02 bông cần sa khô. Sau khi T, S và H bị phát hiện về việc sử dụng cần sa, Ng đã tự nguyện giao nộp 02 bông cần sa còn lại cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M’Đrắk.

* Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Nhất V trình bày: Anh V có quen biết S. Ngày 11/6/2021, anh V đi câu cá với bạn, không có ở nhà nên không biết việc S cùng T và H vào nhà mình để sử dụng ma túy.

* Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Văn L trình bày: Ng là em họ của anh L. Anh L làm nghề tài xế lái xe dịch vụ. Ngày 02/6/2021, có người gọi điện thoại đề nghị anh L giao về cho Ng với giá cước 30.000đồng, nhận hàng tại Km3 đối diện khách sạn Mường thanh. Anh L không nhìn rõ mặt người giao hàng. Anh L trả 300.000đồng cho người giao hàng sau đó giao lại cho Ng tại thị trấn M’Đrắk. Ng đã trả tiền hàng và tiền cước vận chuyển. Số điện thoại của người gọi cho L không xác định được. Anh L không biết gói hàng có chứa cần sa.

+ Tại phiên tòa, Phạm Xuân T, Lê Nguyễn Nhật H và Đặng Hoàng Kim S trình bày: T là em họ của Ng. Trước đó, trong lúc ăn nhậu cùng T, Ng nói có cần sa để ở nhà dùng dần. Ngày 11/6/2021, T và H đến nhà Ng mua 1 cành có 02 bông cần sa với giá 100.000đồng. H, S và T cùng đến nhà V để sử dụng chung.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Ng phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251 và Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Duy Ng từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

+ Áp dụng Điều 47 BLHS và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS):

- Tịch thu tiêu huỷ 4,6252gram ma tuý loại Cần sa, 01 hộp bằng kim loại đựng cần sa.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone XS Max thu giữ của Bùi Duy Ng.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 điện thoại di động thu giữ của S và H.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M’Đrắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện M’Đrắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở pháp lý kết luận:

Ngày 02/6/2021, Ng nhờ đối tượng tên Nguyễn Chí C (không rõ nhân thân) tìm mua giúp 07 bông cần sa khô với giá 300.000đồng tại thành phố Buôn Ma Thuột mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác. Ng đã sử dụng 03 bông cần sa, còn lại 04 bông. Đến khoảng 12 giờ ngày 11/6/ 2021, tại nhà Ng ở tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, Ng đã bán 02 bông ma túy cần sa khối lượng 3,5108gam với giá 100.000đồng cho Lê Nguyễn Nhật H và Phạm Xuân T để H, T và Đặng Hoàng Kim S sử dụng. Ngọc đã tự nguyện giao nộp 02 bông ma túy Cần sa khô khối lượng 1,8954gram còn lại cho cơ quan cảnh sát điều tra. Hành vi của bị cáo Ngọc đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy VKSND huyện M’Đrắk truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 BLHS quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Xét tính chất vụ án, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về ma túy. Bị cáo phải biết mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của con người, đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng nên bị cáo bất chấp quy định của pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Vấn đề khác:

Đối với nguồn ma túy là cây cần sa, bị cáo khai nhờ đối tượng Nguyễn Chí C mua giúp tại thành phố Buôn Ma Thuột. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk đã xác minh thông tin nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể, nên tách vụ án tiếp tục xác minh, khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau là phù hợp nên HĐXX không đặt ra xử lý.

Đối với Hoàng Nhất V: Tại thời điểm T, H và S đến nhà V để sử dụng ma túy thì V không có mặt tại nhà nên V không biết việc T, H và S sử dụng ma túy tại nhà mình. Đối với Hồ Văn L là người vận chuyển ma túy Cần sa cho Ngc, L không biết hàng mà Ng nhờ L giao nhận là ma túy. Vì vậy HĐXX không có căn cứ xử lý.

Đối với Phạm Xuân T, Lê Nguyễn Nhật H và Đặng Hoàng Kim S cùng có hành vi mua 3,5108gam ma túy Cần sa của Ng để sử dụng chung, khối lượng ma túy Cần sa thu giữ không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt hành chính đối với S và H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, xử lý hành chính đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp, vì vậy HĐXX không đặt ra xử lý.

Biện pháp tư pháp:

- 4,6252 gram ma túy loại cần sa là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ;

- 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đồng và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, thu giữ của Bùi Duy Ng là tài sản có liên quan đến vụ án cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS thu giữ của Lê Nguyễn Nhật H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus thu giữ của Đặng Hoàng Kim S, Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[2.]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Duy Ng 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 4,6252 gram ma túy loại cần sa, 01 hộp bằng kim loại dạng hình lục giác, màu đen.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đồng (Theo Biên lai thu tiền số 60AA/2021/0002456 ngày 03/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max.

Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M’Đrắk và Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk.

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện M’Đrắk đa trã ̉ lại 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS cho của Lê Nguyễn Nhật H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus cho Đặng Hoàng Kim S.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Bùi Duy Ng phải chịu 200.000đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Thông báo quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ