vanban.org

Bản án 28/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Phạm Thanh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 23 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10 cm, l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Hoài T - Bị truy tố tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phạm Thanh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐĂK LĂK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HS-ST
Ngày 29 – 11- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thường, ông Nguyễn Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:25/2021/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/HSST-QĐ ngày 12/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thanh H, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1998 tại Bình L, Hà Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã D, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S, sinh năm 1976 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Bị cáo có vợ là Trần Thị H, sinh năm 2000 và có 01 con tên là Phạm Thị Như Y, sinh năm 2021;

Tiền án; Không.

Tiền sự: Có 01 tiền sự, vào ngày 31/12/2020 bị cáo bị Công an huyện Krông Bông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: + Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1987; Anh Đỗ Vương A, sinh năm 1997 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đình Q, sinh năm 1971 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Cao K, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

+ Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984 (vắng mặt không có lý do)

+ Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 15/5/2021, anh Nguyễn Cao K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47H-003.42 (là xe chung của K và H) chở Phạm Thanh H đi từ thị trấn K, huyện K về xã C, huyện K. Khi đi đến thuộc đoạn đường thuộc Buôn K, xã C, huyện K thì xảy ra va chạm với xe máy kéo (xe Công nông) không biển số, chạy hướng ngược lại do anh Nguyễn Trọng H điều khiển, làm bung ốc gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô. Sau khi va chạm, cả hai bên dừng xe xuống cùng sửa gương chiếu hậu xe ô tô. Trong lúc sửa gương chiếu hậu, H lấy tua vít chọc làm gương chiếu hậu bị nứt. Thấy vậy, anh H cho rằng H sửa láo nên điều khiển xe máy kéo chạy đi. Lúc đó, có anh Đỗ Vương A điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 47K1-168.42 chạy phía sau để soi đèn cho xe máy kéo. Bực tức vì anh H chưa giải quyết xong vụ việc va chạm nhưng lại bỏ đi nên H vào nhà anh Lê Đình Q, trú tại Buôn K, xã C mượn xe mô tô biển kiểm soát 47K1-164.03 chạy theo xe máy kéo của anh H để yêu cầu giải quyết vụ va chạm giữa hai xe. Hải đuổi theo đến thôn T, xã C, huyện K thì kịp, H dừng xe mô tô chặn đầu xe anh H lại, anh H và anh A thấy vậy dừng xe vào lề đường. Lúc đó, anh H ngồi trên xe chửi H và nói “mày muốn gì nữa đây”, còn anh A đi bộ từ sau xe máy kéo đến chỗ H, vừa đi vừa chửi H và nói “mày chạy xe kiểu gì đấy, mày muốn chết à”, khi anh A tới gần thì H liền lấy con dao, cán bằng nhựa màu đen, dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 13cm, nơi rộng nhất 02cm, mũi dao nhọn ở trong túi để tiền đeo trước bụng (H làm nghề buôn bán Dứa, dao thường để trong túi đựng tiền, dùng để gọt dứa) cầm trên tay trái, H dùng dao đâm một nhát trúng vào vùng bẹn phải (dưới bụng) của anh A đồng thời anh A dùng chân phải đạp vào hông phải của H làm H ngã xuống lề đường, thì H vùng dậy dùng dao đâm 01 nhát nữa trúng vào phía sau đùi phải của anh A. Anh H thấy vậy, xông vào ôm vai phải của H từ phía sau thì bị H cầm dao bằng tay trái đâm 01 nhát trúng vào xương sườn bên phải của anh H. Lúc đó, có anh Nguyễn Văn D vừa đi đến, thấy vậy anh D chạy vào giật lấy dao trên tay của H. Sau đó, H chạy bộ về hướng xã C, trên đường đi H gọi cho anh Nguyễn Cao K chạy đến xem có ai bị thương thì đưa đi cấp cứu, điều trị.

Tại bản kết luận pháp y về thương tích số 688/TgT-TTPY ngày 16/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk xác định anh Đỗ Vương A bị: Vết thương bẹn phải dài 03cm gây thủng hồi tràng, đã phẫu thuật khâu hồi tràng tỷ lệ 51%; các vết sẹo, vết mổ vùng bẹn và vùng bụng tỷ lệ 02%, 02% và 01%; vết thương mặt sau đùi phải rách cơ và seọ tỷ lệ 2%. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Đỗ Vương A hiện tại lành 54%. Vật tác động: Vật sắc, nhọn.

Tại bản kết luận pháp y về thương tích số 689/TgT-TTPY ngày 09/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk xác định anh Nguyễn Trọng H bị: Vết thương để lại sẹo dọc theo xương sườn số 08 kích thước 1x3cm. Kết luận tỷ lệ thương tích gây nên của anh Nguyễn Trọng H hiện tại là là 0,1%. Vật tác động: Vật sắc, nhọn.

Vật chứng thu giữ được: 01 con dao dài 23 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, nơi rộng nhất 02 cm, mũi dao nhọn.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Thanh H khai: Vào ngày 15/5/2021 do sự việc va chạm giao thông giữa xe của bị cáo và xe của anh Nguyễn Trọng H, khi chưa giải quyết xong anh H đã bỏ đi, bị cáo vào nhà anh Lê Đình Q mượn xe mô tô đuổi theo anh H để nói chuyện. Bị cáo chạy xe lên trước và tấp vào lề đường. Khi gặp anh H thì anh H đã chửi bị cáo, anh Đỗ Vương A đi bộ từ sau xe máy kéo đến chỗ bị cáo, anh A vừa đi vừa chửi bị cáo, anh A đi đến chỗ bị cáo thì bị cáo liền lấy con dao thái lan loại nhỏ trong túi thường đeo trước bụng cầm trên tay trái đâm anh A một nhát vào bẹn phải của anh A, anh A dùng chân phải đá bị cáo ngã xuống lề đường, lúc này trên tay bị cao còn cầm dao nên bị cáo đâm anh A thêm nhát thứ hai. Sau đó anh H xuống xe xông vào ôm giữ tay trái bị cáo, trên tay bị cáo còn cầm dao nên bị cáo có vòng con dao từ trái qua phải đâm một nhát vào hông phải của anh H làm anh H bị thương tích.

Tại cơ quan điều tra, bị hại Đỗ Vương A đã có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì về trách nhiệm dân sự. Bị hại Nguyễn Trọng H đã có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 12/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông truy tố bị cáo Phạm Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vào ngày 15/5/2021 do sự việc va chạm giao thông giữa xe của bị cáo và xe của anh Nguyễn Trọng H, khi chưa giải quyết xong anh H đã bỏ đi, bị cáo H đã mượn xe của gia đình anh Lê Đình Q đuổi theo anh H để nói chuyện. Khi gặp anh H thì anh H đã chửi bị cáo, sau đó anh Đỗ Vương A đi đến chỗ bị cáo, chửi bị cáo và đá bị cáo nên bị cáo đã dùng dao đâm anh A. Sau đó, anh H chạy lại ôm bị cáo lại, bị cáo đã vung tay để bỏ chạy thì không may trúng vào người anh H. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị hại Đỗ Vương A: Khi tôi đang điều khiển xe máy chạy phía sau xe máy kéo soi đèn cho cậu vì xe của cậu không có đèn thì có một người chạy xe mô tô chặn trước đầu xe cậu H, tôi có tới chỗ bị cáo H thì bị cáo dùng dao đâm tôi, sau đó tôi có đá bị cáo H một cái vào hông phải làm bị cáo ngã xuống đất. Tôi định chạy đi thì bị bị cáo H đâm thêm nhát thứ hai.

Bị hại Nguyễn Trọng H: Tôi có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo H, tôi không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Thanh H về tội: “Cố ý gây thương tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh H mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 23 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trằn dài 13 cm, nơi rộng nhất 02 cm, mũi dao nhọn.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Vương A không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để giải quyết.

Bị hại Nguyễn Trọng H không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để giải quyết.

* Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Thanh H tranh luận: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là dùng dao đâm anh A hai nhát và anh H một nhát gây thương tích. Tuy nhiên, bị cáo bị anh A đá trước nên bị cáo mới dùng dao đâm anh A, còn đối với anh H khi anh H ôm bị cáo, mục đích bị cáo vung tay để bỏ chạy thì không may làm anh H bị thương.

Bị hại Đỗ Vương A: Bị cáo khai như vậy là không đúng, bị cáo đâm tôi trước rồi tôi mới đá bị cáo.

Bị hại Nguyễn Trọng H: Đối với thương tích của tôi thì tôi không có ý kiến gì, nhưng đối với thương tích mà bị cáo gây ra cho cháu tôi là Đỗ Vương A thì bị cáo khai như vậy là không đúng sự việc xảy ra, bị cáo nên thành khẩn khai đúng sự thật.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận đối đáp với ý kiến tranh luận của bị hại và bị cáo: Đối với mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại về sự việc, lời khai của bị cáo là bị anh A đá trước rồi mới đâm, còn anh A khai là bị cáo đâm trước rồi anh mới đá bị cáo. Thực tế, sự việc này không có ai chứng kiến, đây chỉ là tình tiết để chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, tỷ lệ thương do bị cáo gây ra cho anh A là 54% sức khỏe, anh H 1% nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét, xét xử bị cáo và áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 134 BLHS là tính chất côn đồ, về tình tiết giảm nhẹ áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Bông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội dùng dao đâm anh Đỗ Vương A hai nhát và anh Nguyễn Trọng H một nhát, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác được thu thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, thể hiện:

Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác vào khoảng 19 giờ ngày 15/5/2021, tại Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, xuất phát từ mâu thuẫn do va chạm giao thông giữa xe ô tô và xe máy kéo do anh Nguyễn Trọng H điều khiển làm bung gương chiếu hậu xe ô tô của bị cáo và anh Nguyễn Cao K. Sau đó, do anh H điều khiển xe bỏ đi mà không giải quyết sự việc va chạm nên bị cáo đuổi theo yêu cầu giải quyết thì bị anh H, anh A chửi nên bị cáo đã dùng một con dao nhọn đâm anh A, anh A đá bị cáo một cái làm bị cáo ngã xuống đất nên bị cáo đâm tiếp nhát thứ hai: 01 nhát trúng vào bẹn phải và 01 nhát trúng vào mặt sau đùi phải của anh Đỗ Vương A gây thương tích cơ thể của anh A tổng tỷ lệ là 54%. Ngoài ra, bị cáo còn dùng dao nói trên đâm 01 nhát vào vùng xương sườn bên phải của anh Nguyễn Trọng H gây thương tích tỷ lệ 01% (do anh H rút đơn yêu cầu nên không khởi tố xử lý mà đặt ra giải quyết dân sự và đánh giá trong xử lý chung).

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134. Tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm ….

i) Có tính chất côn đồ.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

………………………..

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn có khả năng nhận thức và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải biết việc dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào người khác có thể gây thương tích, gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã một lần bị Công an huyện Krông Bông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC. Bị cáo đã được giáo dục về pháp luật nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tự rèn luyện, kìm chế bản thân mà ngày 15/5/2021, bị cáo và bị hại Đỗ Vương A không có mâu thuẫn gì, bị cáo có hành vi dùng dao đâm anh Đỗ Vương A gây thương tích với tỷ lệ 54% và gây thương tích cho anh Nguyễn Trọng H 0,1%.

Hành vi của bị cáo là sử dụng hung khí nguy hiểm, phạm tội với lỗi cố ý và tính chất côn đồ. Do đó bị cáo cần phải được áp dụng các tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS để xử lý đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần được pháp luật xử lý, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương nơi cư trú nói riêng và toàn xã hội nói chung. Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ mà bị cáo đã thực hiện để có một bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ gia đình nông dân, có trình độ học vấn thấp (7/12). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã gọi điện cho anh Nguyễn Cao K chạy đến xem có ai bị thương thì đưa đi cấp cứu và bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã có thái độ thành khẩn nhưng khai báo chưa được rõ ràng, ăn năn hối cải, sau khi gây ra thương tích cho các bị hại bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Đỗ Vương A số tiền 150.000.000 đồng và bị hại Nguyễn Trọng H 10.000.000 đồng, các bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và có tính chất côn đồ nên cần cách ly bị cáo Phạm Thanh H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và mới bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Đối với hành vi H dùng dao đâm vào vùng xương sườn bên phải của anh Nguyễn Trọng H gây thương tích nhẹ 0,1%, anh Hà đã làm đơn bãi nại và yêu cầu không khởi tố vụ án, mà giải quyết về mặt dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết đối với hành vi trên.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 23 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, nơi rộng nhất 02 cm, mũi dao nhọn.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình tố tụng bị hại Đỗ Vương A đã bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động và tiền tổn thất tinh thần với số tiền là 150.000.000 đồng, bị hại Đỗ Vương A không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để giải quyết.

Đối với bị hại Nguyễn Trọng H bị cáo đã bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động và tiền tổn thất tinh thần với số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại còn yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị hại anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

* Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

. Xét thấy quan điểm đường lối xử lý vụ án và đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên giữ quyền công tố là phù hợp, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ các Điều 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố bị cáo: Phạm Thanh H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 23 cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trằn dài 13 cm, nơi rộng nhất 02 cm, mũi dao nhọn.

(Vật chứng được cất giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk)

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đỗ Vương A số tiền 150.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Trọng H số tiền 10.000.000 đồng. Bị hai Đỗ Vương A và bị hại Nguyễn Trọng H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Thanh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, bị hại (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ