vanban.org

Bản án 28/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về luật áp dụng:

2/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Như T phạm tội: “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Như Trung phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HSST
Ngày 23 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuần; Ông Phạm Tuấn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Như T - sinh năm 1954 tại Đà Nẵng

Nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Già yếu; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính : Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Bùi Như H - sinh năm 1908 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr - sinh năm 1916 (Đã chết); có vợ Trần Thị Kim N - sinh năm 1966 và 05 con (lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1997); Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân:

Tại Bản án số 64/2006/HS-ST ngày 26/12/2006, bị Toà án nhân dân huyện Định Quán tuyên phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”; chấp hành xong hình phạt, đóng án phí tháng 02/2007.

Bị bắt ngày 25/8/2020, tại ngoại ngày 28/8/2020 đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 8/2020, bị cáo Bùi Như T đánh bạc trái phép bằng hình thức “ghi số đề” cho các con bạc thuộc khu vực ấp Phú Tân, xã Phú Cường. Hàng ngày, khi người chơi đến nhà T mua số đề thì T ghi số đề và số tiền mua đề tương ứng vào tờ giấy kích thước 25cm x 35cm; đồng thời ghi và giao phơi đề cho những người mua số đề làm căn cứ tính thắng thua khi có kết quả xổ số. Mỗi ngày, T ghi đề cho khoảng từ 06 đến 08 người nhưng số tiền ghi đề không ổn định vì một số người chơi đề đưa tiền trước cho T, số khác đợi sau khi có kết quả thắng thua mới đưa tiền. Tính từ khi bắt đầu ghi số đề đến khi bị bắt, T thu lợi bất chính từ đánh bạc khoảng 2.000.000 đồng.

Cách thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua như sau: Đánh số đầu đuôi: Đánh 02 số cuối của giải tám và giải đặc biệt (số tiền ghi đề nhân lên 2 lần còn đánh số đầu hoặc số đuôi thì nhân 01 lần); nếu người chơi trúng sẽ được nhân số tiền ghi đề lên 70 lần. Đánh bao lô 02 số là ghi 02 số cuối trong tất cả 18 dãy số của bảng kết quả xổ số (số tiền ghi đề nhân 18 lần), nếu người chơi trúng thì số tiền ghi nhân lên 70 lần sau đó nhân với số lần con số đó xuất hiện trong bảng kết quả. Đánh bao lô 03 số là ghi 03 số cuối trong 17 dãy số của bảng kết quả xổ số (số tiền ghi đề nhân với 17 lần), nếu người chơi trúng thì thắng 600 lần số tiền ghi đề, sau đó nhân với số lần con số đó xuất hiện trong bảng kết quả. Đánh xỉu chủ 03 số là đánh 03 số cuối của giải đặc biệt và giải 7 (số tiền ghi đề nhân 02 lần), nếu người chơi trúng thì thắng 600 lần số tiền ghi đề nhân với số lần con số đó xuất hiện trong bảng kết quả. Đánh số đá 02 cặp số, 03 cặp số, 04 cặp số là đánh 02 số cuối của 18 giải xổ số (số tiền ghi đề nhân 18 lần và số lần đá), người chơi trúng khi kết quả xổ số xuất hiện từ 02 cặp số đến 06 cặp số và số tiền ghi đề nhân 700 lần. T sẽ chung số tiền người chơi trúng theo quy định và trừ số tiền người chơi bỏ ra ghi đề. Số tiền thắng thua dựa trên bảng kết quả xổ số tương ứng với ngày ghi đề.

Vào 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2020, Công an huyện Định Quán phối hợp với Công an xã Phú Cường bắt quả tang Bùi Như T đang tổng hợp phơi đề tại nhà riêng ở ấp Phú Tân, xã Phú Cường; Cơ quan Công an thu giữ:

- 02 quyển tập kích thước 35cm x 25cm, 02 trang giữa của 02 quyển tập học sinh là 02 bản tổng hợp phơi đề đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 25/8/2020).

- 01 cùi phơi đề kích thước 05cm x 07cm

- 01 cây viết bi mực xanh, 01 cây viết bi màu đỏ.

- Tiền mặt: 12.400.000 đồng.

- 01 máy tính Casio.

Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 25/8/2020, xác định số tiền T ghi đề vào ngày 25/8/2020 là 36.912.000 đồng (Bút lục số 36-38). Căn cứ kết quả xổ số ngày 25/8/2020 của đài tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và biên bản đối chiếu kết quả xổ số, xác định số tiền những người chơi đề đã trúng thưởng vào ngày 25/8/2020 là 3.640.000 đồng (Bút lục số 39). Như vậy tổng số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc vào ngày 25/8/2020 là 40.552.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSĐQ ngày 30/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Bùi Như T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:

1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 56 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm cải tạo không giam giữ nhưng miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2/ Bị cáo Bùi Như T thành khẩn nhận tội và xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã nêu trong cáo trạng thì bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác. Bị cáo đang điều trị lao phổi và nhồi máu cơ tim nên xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Như T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Như T đã khai nhận tội; lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 8/2020 đến ngày 25/8/2020, Bùi Như T đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “ghi số đề” tại nhà riêng thuộc ấp Phú Tân, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2020, khi bị cáo T đang tổng hợp phơi đề thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc ngày 25/8/2020 là 40.552.000 đồng, vì vậy, hành vi của bị cáo Bùi Như T đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét thấy: Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo Bùi Như T biết rõ điều này nhưng vì muốn tư lợi nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Việc đưa ra xét xử và tuyên phạt bị cáo T một hình phạt tương xứng để trừng phạt bị cáo vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

Bị cáo Bùi Như T không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người cao tuổi, đã tích cực nộp số tiền phạm tội mà có nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo T đang điều trị bệnh mãn tính, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết bắt giam bị cáo mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ trừng trị bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo Bùi Như T tuổi đã cao, không có nghề nghiệp nên Tòa án miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:

- 02 quyển tập kích thước 35cm x 25cm, 02 trang giữa của 02 quyển tập học sinh là 02 bản tổng hợp phơi đề đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu ngày 25/8/2020), 01 cùi phơi đề kích thước 05cm x 07cm: Là tài liệu chứng minh tội phạm nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án,

- Đối 01 cùi phơi đề kích thước 05cm x 07cm, 01 cây viết bi mực xanh, 01 cây viết bi màu đỏ, 01 máy tính Casio. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.

- Số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc trong ngày 25/8/2020 là 40.552.000đ và theo quy định của Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự thì phải bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Bị cáo đã nộp 6.400.000đ nên buộc bị cáo nộp thêm 34.152.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo T giao nộp là số tiền thu lợi bất chính từ việc ghi số đề nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Các đối tượng mua số đề chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Công an huyện Định Quán tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về luật áp dụng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2/ Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bùi Như T phạm tội: “Đánh bạc”.

3/ Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bùi Như T 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo T được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho T cho Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.

4/ Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền 42.552.000đ. Bị cáo T đã giao nộp 8.400.000đ (trong đó 2.000.000đ tiền thu lợi bất chính và 6.400.000đ là tiền sử dụng vào việc phạm tội) nên buộc bị cáo nộp bổ sung số tiền 34.152.000đ.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây bút bi màu xanh, 01 cây bút bi màu đỏ, 01 máy tính Casio,

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán quản lý theo biên bản giao nhận ngày 08/4/2021).

5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Bùi Như T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ