- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Mộng B phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Mộng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/HS-ST Ngày: 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai
2. Bà Võ Thị Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngộ Không - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 đối với:
* Bị cáo: Trần Thanh Mộng B - sinh năm 1976 tại Bến Tre; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khóm Đông T9, phường MP, T phố LX, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Thanh T, sinh năm 1950 và bà Dương Thị A, sinh năm 1947; Vợ tên: Phan Thùy Phương T, sinh năm 1977; Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Huỳnh Thị Quỳnh H thuộc Văn phòng luật sư QH, đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
* Người bị hại: Phan Duy K - sinh năm 2000 (đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Văn C - sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Ấp HB, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn T - sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn VT2, xã YTg, huyện YM, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ - sinh năm 1964, địa chỉ: Khóm MT, thị trấn MT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Phước T - sinh năm 1979; địa chỉ: BĐ 4, phường BĐ, T phố LX, tỉnh An Giang (vắng mặt).
* Người làm chứng: Chị Hồ Thị Bảo N - sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp LH, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Trần Thanh Mộng B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 06 giờ ngày 08/02/2021, Trần Thanh Mộng B điều khiển xe ô tô biển số 65A - 141.00 lưu thông trên Quốc lộ 30 theo hướng từ Cao Lãnh đi An Hữu, khi đi đến địa phận khóm Mỹ Thới, thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì B điều khiển xe vượt lên ô tô đầu kéo biển số 51C - 697.68 do Lưu Văn T1 đang điều khiển cùng chiều phía trước. Trong lúc vượt xe ô tô đầu kéo thì phần cảng phía trước bên trái xe ô tô của B va chạm với phần hong bên trái xe mô tô biển số 67L1 - 141.68 do Phan Duy K điều khiển chiều ngược lại làm K ngã ra đường tử vong tại hiện trường, xe ô tô tiếp tục di chuyển về phía trước bị phần cảng trước ô tô rơ mooc va chạm vào hong trái đẩy vào lề phải va chạm vào nhiều lò xi măng đang để cặp lộ làm hư hỏng, riêng xe ô tô và xe ô tô đầu kéo dừng lại phía trong lề phải hướng đi, xe bị hư hỏng một số bộ phận. Vụ việc sau đó được trình báo và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lãnh giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: Xe ô tô đầu kéo biển số 51C - 697.68 cùng giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy bảo hiểm bắt buộc; Giấy phép lái xe A1, FC mang tên Lưu Văn T1; Xe ô tô biển số 65A - 141.00; giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Thanh Mộng B; xe mô tô biển số 67L1 - 141.68.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 85 ngày 08/02/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đã giám định và kết luận nguyên nhân tử vong của Phan Duy K: Chấn thương sọ não nặng/Tai nạn giao thông.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường xác định đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, tổ chức giao thông hai chiều, có vạch sơn đứt nét, mặt đường rộng 7,6m. Lấy mép đường bên trái hướng từ T phố Cao Lãnh đến An Hữu làm lề chuẩn, xác định vùng đụng giữa xe mô tô biển số 67L1 - 141.68 và xe ô tô biển số 65A - 141.00 cách lề 1,30m.
Căn cứ vào Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các dấu vết để lại trên hiện trường xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do B điều khiển xe không chú ý quan sát, vượt xe không đảm bảo an toàn đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Tại khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ có quy định: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
Ngày 23/4/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh đã định giá và kết luận số 08 ngày 23/4/2021 về các tài sản bị hư hỏng cụ thể như sau: Xe mô tô biển số 67L1 - 141.68 trị giá 6.438.333 đồng; xe ô tô đầu kéo 51C - 697.68 trị giá 2.200.000 đồng; xe ô tô con biển số 65A - 141.00 trị giá 26.266.667 đồng.
Trong quá trình điều tra, ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị S là đại diện hợp pháp của K đã thỏa thuận với bị cáo Trần Thanh Mộng B bồi thường các khoản thiệt hại, chi phí sửa chữa xe tổng số tiền 210.000.000 đồng xong, đại diện hợp pháp của bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với B.
Ngày 20/4/2021, Nguyễn Phước T chủ xe ô tô 65A - 141.00 cùng bị cáo Trần Thanh Mộng B tự thỏa thuận giải quyết thiệt hại, không yêu cầu gì trong vụ án này. Riêng đối với Lê Văn T1 đã thỏa thuận bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu gì khác.
Riêng đối với nhiều cái lò xi măng bị hư hỏng bị cáo B và bà Nguyễn Thị Đ đã thỏa thuận bồi thường số tiền 5.000.000 đồng xong, bà Đ không yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lãnh đã trả lại cho anh Lưu Văn T1 01 xe ô tô đầu kéo biển số 51C- 697.68 cùng Giấy chứng nhận kiểm định xe, Giấy bảo hiểm bắt buộc và Giấy phép lái xe A1, FC mang tên Lưu Văn T1; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô biển số 67L1 - 141.68, trả lại cho ông Nguyễn Phước T 01 xe ô tô biển số 65A - 141.00.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSHCL ngày 16/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Thanh Mộng B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Mộng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thanh Mộng B với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô từ 01 năm đến 02 năm.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong; Riêng giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Thanh Mộng B cần phải trả lại cho bị cáo.
* Người bào chữa phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, người bào chữa còn đề nghị xem xét các tình tiết về nhân thân của bị cáo để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đồng ý với lời phát biểu của người bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thanh Mộng B đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 26/CT-VKSHCL ngày 16/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Chính bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 65A - 141.00 lưu thông trên Quốc lộ 30 theo hướng từ Cao Lãnh đi An Hữu vào khoảng 06 giờ ngày 08/02/2021, khi đến khu vực thuộc địa phận khóm Mỹ Thới, thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thì bị cáo đã điều khiển xe lấn sang làn đường bên trái theo chiều đi của mình để vượt xe ô tô đầu kéo phía trước do anh Lưu Văn T1 đang điều khiển. Trong quá trình vượt xe ô tô đầu kéo thì bị cáo phát hiện xe mô tô mang biển số 67L1-141.68 do Phan Duy K đang điều khiển chiều ngược lại (bên phần đường của K), do khoảng cách quá gần nên bị cáo không kịp xử lý và đã xảy ra va chạm với xe mô tô của K, hậu quả làm K tử vong tại hiện trường.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh Mộng B đã cấu T tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét hành vi của bị cáo Trần Thanh Mộng B, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã T niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã được học tập và đã được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe thiếu quan sát, vượt xe không đảm bảo an toàn giao thông nên đã xảy ra va chạm với phương tiện khác khi đang lưu thông chiều ngược lại và đây cũng là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở T một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã T khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong cho phía gia đình của người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bản thân bị cáo còn là lao động chính trong gia đình, đang nuôi dưỡng cha mẹ già và con nhỏ đang đi học; mặt khác, bị cáo cũng đã cố gắng bù đắp tổn thất cho phía gia đình của người bị hại bằng cách giới thiệu cho người thân (chị ruột) của bị hại có được công việc ổn định. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo B có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng cùng với nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở T người có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo lái xe ô tô một thời gian theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian tự sửa chữa bản thân và có ý thức chấp hành pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố, giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe hạng B2 số 890093003013 do Sở Giao thông vận tải tỉnh An Giang cấp ngày 17/7/2014 mang tên Trần Thanh Mộng B là giấy tờ cá nhân của bị cáo, không phải là vật chứng nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh và người bào chữa cho bị cáo về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Mộng B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Trần Thanh Mộng B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2021).
- Giao bị cáo Trần Thanh Mộng B cho Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, T phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, T phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thanh Mộng B cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Thanh Mộng B phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Trần Thanh Mộng B phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Trần Thanh Mộng B phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự,
2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, cấm bị cáo Trần Thanh Mộng B lái xe ô tô 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số 890093003013 mang tên Trần Thanh Mộng B, ngày cấp 17/7/2014, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh An Giang, có giá trị đến ngày 17/7/2024 (Vật chứng đang được Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2021).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Trần Thanh Mộng B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Cao Lãnh; - CA huyện Cao Lãnh; - THADS huyện Cao Lãnh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Trường Chinh |