- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! HUYỆN!AN!BIÊN! ! TỈNH!KIÊN!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2021/HS-ST Ngày 30 - 9 - 2021 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC"CỘNG"HÒA"XÃ"HỘI"CHỦ"NGHĨA"VIỆT"NAM"
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!AN!BIÊN,!TỈNH!KIÊN!GIANG!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên và ông Bùi Minh Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số: 49/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ!Thị!Ngọc!L, sinh năm 1996 tại huyện H, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T, sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Biên từ ngày 16/6/2021 cho đến nay. Có mặt
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 16/6/2021, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện phối hợp Công an xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu trên người L 01 (Một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín có kích thước 4,5 cm x 03 cm, bên trong bịch nylon chứa các hạt tinh thể không đồng nhất nghi vấn là chất ma túy.
Quá trình điều tra Võ Thị Ngọc L khai nhận. Khoảng 20 giờ ngày 15/6/2021, Võ Thị Ngọc L!điện zalo cho cho một người tên Đốm (không rỏ nhân thân lai lịch) để mua ma túy về sử dụng, Đốm hẹn L đến địa điểm ấp 7 Chợ xã Đông Thái. Đốm và L gặp vào khoảng 08 giờ ngày 16/6/2021 rồi cùng nhau đến Thứ Năm chơi, trên đường đi Đốm bán ma túy cho L với giá 1.000.000 đ (một triệu đồng). Nhận được ma túy L cất giấu trong người rồi đi chơi cho đến khoảng 10 giờ cùng ngày L và Đốm đang trên đường về đến cầu Nhị Tỳ thuộc ấp Nam Quí, xã Đông Thái thì bị bắt.
Tại Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 23/6/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất đựng trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,4838 gam.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bịch nylon màu trắng, được hàn kín có kích thước khoảng 4,5 cm x 03 cm bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Sony, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 354194071755063 (điện thoại đã qua sử dụng, không sim không thẻ nhớ, bễ màn hình cảm ứng, trầy xước nhiều chỗ).
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSHAB ngày 17/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh, tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Võ Thị Ngọc L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SONY, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 354194071755063 (điện thoại đã qua sử dụng, không sim không thẻ nhớ, bể màn hình cảm ứng, trầy xước nhiều chỗ);
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Phạm Thuận Lợi, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm phong mẫu vật, vụ số 660/2021. Theo Kết luận Giám định số 660/KL-KTHS, ngày 04/5/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,4838 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 2,4583 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số: 660/2021.
Bị cáo Võ Thị Ngọc L trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Võ Thị Ngọc L nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ:
Để có ma túy sử dụng, Võ Thị Ngọc L gọi điện zalo cho tên Đốm (không rỏ lai lịch để và hẹn gặp nhau địa điểm ấp 7 Chợ để giao ma túy. Đốm và L gặp và cùng đi đến Thứ 5 chơi, trên đường đi Đốm bán ma túy cho L với giá 1.000.000 đồng, nhận được ma túy L giấu trong người, trên đường về đến Cầu Nhị Tỳ thuộc ấp Nam Quý thì bị bắt. Thu giữ trên người của Võ Thị Ngọc 01 bịch chứa ma túy đá loại Methamphethamine có khối lượng theo kết luận giám định là 2,4838 gam nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi pháp luật cấm và vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì ham chơi, đua đòi mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng trái phép. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe, kinh tế, còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả các bị cáo đã gây ra để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho những người khác có ý định tương tự như bị cáo.
Đối với tên Đốm (chưa rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho Võ Thị Ngọc L, sau khi L bị bắt bỏ chạy, Cơ quan Điều tra Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra, xác minh rõ sẽ xử lý sau.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SONY, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 354194071755063 (điện thoại đã qua sử dụng, không sim không thẻ nhớ, bễ màn hình cảm ứng, trầy xước nhiều chỗ).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Phạm Thuận Lợi, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm phong mẫu vật, vụ số 660/2021. Theo Kết luận Giám định số 660/KL-KTHS, ngày 04/5/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,4838 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 2,4583 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số: 660/2021.
[5] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Thị Ngọc L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về!hình!phạt:!
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc L 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 16/6/2021.
2.!Về!biện!pháp!tư!pháp:!Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SONY, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 354194071755063 (điện thoại đã qua sử dụng, không sim không thẻ nhớ, bễ màn hình cảm ứng, trầy xước nhiều chỗ);
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Phạm Thuận Lợi, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm phong mẫu vật, vụ số 660/2021. Theo Kết luận Giám định số 660/KL-KTHS, ngày 04/5/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 01 (Một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,4838 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 2,4583 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số: 660/2021.
Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 21/QĐ-VKS-HS ngày 17/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.!
3. Về!án!phí:! !
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Thị Ngọc L nộp án phí là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4.!Quyền!kháng!cáo:!
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - THA Dân sự, Hình sự; - NTG; CA huyện An Biên; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương). !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Trần!Thị!Chọn! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊNTÒA! ! |