vanban.org

Bản án 28/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 15/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quan A L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt như sau:

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Quan A L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quan A L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quan A L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HS-PT
Ngày 15-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh

Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán và ông Lương Văn Đài

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Quan A L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện BH, tỉnh Lào Cai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Quan A L (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam - Sinh ngày 26 tháng 02 năm 1994 tại huyện BH, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn BG, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 8/12.

Con ông Quan A Ch, sinh năm 1973 và bà Hà Thị Nh, sinh năm 1973. Bị cáo có vợ là Quan Thị X, sinh năm 1995 và có 01 con, sinh năm 2016.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 09/9/2020 bị cáo bị Công an xã CL, huyện BH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (chưa được xóa tiền sự).

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

1

- Người bào chữa cho bị cáo Quan A L: Ông Nguyễn Văn H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 10/3/2021, Quan A L đến nhà ông Hà Văn C sinh năm 1964 tại thôn BG, xã CL, huyện BH, tỉnh Lào Cai để ăn cưới. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn cưới xong, L đi ra khu vực ruộng lúa cách nhà ông C khoảng 20 mét thấy có 04 người đàn ông lạ mặt đang đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền mặt nên L cũng tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Cò Văn H, sinh năm 1993 cùng tới tham gia đánh bạc. Tất cả 06 người cùng đánh bạc được khoảng 15 phút thì giải tán, không đánh nữa. Trong lúc Quan A L và Cò Văn H vẫn ở lại địa điểm đánh bạc thì có thêm Cò Văn A, Hà Văn H1 và Mùi Văn D đến và có ý định đánh bạc nên A hỏi xem có ai muốn đánh bạc không, L nói “Có” và nhận làm người xóc đĩa. H, H1, A, D, L cùng tham gia đánh bạc thắng, thua bằng tiền, thống nhất sau mỗi lần xóc đĩa, người chơi đặt cược chẵn hoặc lẻ, thắng thua mỗi ván cược 10.000 đồng đến 100.000 đồng. Quá trình đánh bạc, L sử dụng 220.000 đồng, An sử dụng 150.000 đồng, Dương sử dụng 100.000 đồng, Hùng sử dụng 220.000 đồng, Hưng sử dụng 180.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị cơ quan công an bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ toàn bộ tang vật gồm 850.000 đồng tiền mặt và dụng cụ dùng để xóc đĩa đánh bạc.

Bản án sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện BH, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Quan A L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quan A L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngày 09/7/2021, bị cáo Quan A L kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Quan A L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quan A L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của TAND huyện BH, tỉnh Lào Cai.

Người bào chữa cho bị cáo Quan A L phát biểu quan điểm bào chữa và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của TAND huyện BH, tỉnh Lào Cai, xử phạt bị cáo 06 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về vấn đề này. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Quan A L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2021, bị cáo Quan A L cùng các đối tượng Cò Văn H, Cò Văn A, Hà Văn H1, Mùi Văn D đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng, thua bằng tiền mặt. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị L lượng cảnh sát điều tra, công an huyện BH bắt quả tang, thu giữ 850.000 đồng tại chiếu bạc.

Bị cáo Quan A L là người xóc cái, giữ vai trò là người thực hành trong vụ án. Bị cáo L có tiền sự, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc ngày 09/9/2020, chưa được xóa tiền sự thì đến ngày 10/3/2021 tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 850.000 đồng. Do đó bị cáo bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Các đối tượng khác bao gồm Cò Văn A, Cò Văn H, Hà Văn H1, Mùi Văn D tham gia đánh bạc cùng L, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 850.000 đồng nên không phạm tội đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó các đối tượng này bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Quan A L

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo Quan A L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình được thêm chứng cứ mới: Ngày 04/8/2021, bị cáo Quan A L đã trình báo cơ quan công an về việc đối tượng Đào Văn Q có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT công an huyện BH đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đào Văn Q (có xác nhận ngày 01/9/2021 của Cơ quan CSĐT công an huyện BH). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định bị cáo Quan A L có tiền sự, ngày 09/9/2020 bị cáo bị Công an xã CL xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, do đó không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện BH xử phạt bị cáo Quan A L 06 (sáu) tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và phát huy được tính răn đe, phòng ngừa chung. Kháng cáo của bị cáo L là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu L kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 /2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quan A L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện BH về phần hình phạt như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quan A L 06 (sáu) tháng tù về tội đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Quan A L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ