vanban.org

Bản án 28/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/DS-ST
Ngày: 29/4/2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ - TP.CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.

2/ Bà Hồ Thị Thẩm Thúy Hằng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2020/TLST – DS ngày 02 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2021/QĐXXST – DS ngày 14 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TT.

Địa chỉ: Phườ ng8, Quâ ̣n3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣: Bà Nguyễn Đức Thạch Dt

– Tổng giám đốc.

Đại diện ủy quyền tham gia tố tu ̣: Ông Nguyễn Lê Trương

̀ ngS.

- Bị đơn: Ông Lê Quang H, sinh năm 1999.

Địa chỉ: BHN, BT, CT.

Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Lê Trường S trình bày:

Ngày 10/8/2017 ông Lê Quang H ký với Ngân hàng TT hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông H, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng MasterCard với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông H thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 14.775.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ khi kích hoạt đến ngày 31/12/2017 ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.144.000 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 30/4/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và cHển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 05/01/2021 ông H còn nợ tổng cộng 34.027.977 đồng (nợ gốc 15.284.991 đồng, lãi quá hạn 18.742.986 đồng).

Nay yêu cầu ông H trả số tiền trên và tiếp tục thanh toán các khoản lãi sau ngày 05/01/2021 cho đến khi dứt nợ.

Về phía bị đơn ông Lê Quang H: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông H vắng mặt. Theo xác nhận của Công an phường Bùi Hữu Nghĩa ngày 11/01/2021 thì “Ông Lê Quang H, sinh năm 1999 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 316đườ ng Cách mạng thá ng tám, phườ ng Bù i Hữu Nghia, quận Binh Thủy, thành phố Cần Thơ, hiện không có mặt tại địa phương từ

̃

̀ năm 2015 đến nay”.

Từ khi ký hợp đồng tín dụng ngày 10/8/2017 ông Lê Quang H đã không ghi đúng địa chỉ trong hợp đồng tín dụng, ông H đã không còn ở địa chỉ số 316 đườ ng Cách ma ̣ng tháng tám , phườ ng Bùi Hữu Nghia , quâ ̣̃

n Binh Thủy, thành phố

̀ Cần Thơ từ năm 2015. Do không thể cấp, tống đạt, thông báo được cho ông H nên Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 01, 02, 03/4/2021 Ngân hàng đã thực hiện việc thông báo trên Báo Lao động và Đài Tiếng nói Việt Nam trong 03 số liên tiếp và 03 ngày liên tiếp để thông báo việc thụ lý vụ án và thông báo xét xử vắng mặt bị đơn lần 01 vào ngày lúc 14 giờ 14/4/2021 và lần 02 lúc 08 giờ ngày 29/4/2021. Tuy nhiên, đến ngày 29/4/2021 ông H cũng không có mặt để giải quyết vụ án với Ngân hàng.

Do Ngân hàng đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Tòa án cũng thực hiện việc niêm yết tại nơi cư trú của bị đơn. Nay, Tòa án thực hiện việc xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay,

Đại diện nguyên đơn ông S yêu cầu bị đơn ông H trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/4/2021 là 36.206.061 đồng (bao gồm tiền nợ gốc theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 15.284.991 đồng, tiền lãi quá hạn 20.921.070 đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 30/4/2021 cho đến khi tất nợ.

Phía bị đơn ông Lê Quang H vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Ông Lê Quang H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng để vay tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn 3,75%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân, do ông H không thực hiện đúng cam kết trả vốn và lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông H phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/4/2021 là 36.206.061 đồng là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân với ngân hàng được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản

3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt, nên nguyên đơn đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bị đơn theo quy định tại Điều 180 và Tòa án đã thực hiện việc niêm yết theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng TTvà ông Lê Quang H. Theo hợp đồng ông H vay số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn 3,75%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông H có thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 31/12/2017 là 3.144.000 đồng. Sau đó ông H không tiếp tục thanh toán cho ngân hàng nên ngày 30/4/2018 ngân hàng đã cHển toàn bộ số nợ 15.284.991 đồng thành nợ quá hạn. Tính đến ngày 29/4/2021 bị đơn ông H còn nợ nguyên đơn tổng số tiền vốn và lai lã ̀ 36.206.061 đồng (bao gồm tiền nợ gốc theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 15.284.991 đồng, tiền lãi quá hạn 20.921.070 đồng). Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông H phải trả số tiền trên và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 30/4/2021 cho đến khi tất nợ.

Xét thấy, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 31/12/2017 nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và ngày 30/4/2018 Ngân hàng cHển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 15.284.991 đồng sang nợ quá hạn và tính lãi suất quá hạn 3,75%/tháng. Do đó, cần buộc bị đơn trả số tiền 36.206.061 đồng cho nguyên đơn và tiếp tục trả lãi từ ngày 30/4/2021 cho đến khi tất nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Lê Quang H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TT tính đến ngày 29/4/2021 tổng số tiền là 36.206.061 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm lẻ sáu ngàn không trăm sáu mươi mốt đồng). (Bao gồm tiền nợ gốc theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 15.284.991 đồng, tiền lãi quá hạn 20.921.070 đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng từ ngày 30/4/2021 cho đến khi tất nợ.

Phương thức thanh toán nợ giữa các bên do cơ quan thi hành án giải quyết theo thẩm quyền.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Lê Quang H phải nộp 1.810.000 đồng (Một triệu tám trăm mười ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được nhận lại số tiền 804.845 đồng (Tám trăm lẻ bốn ngàn tám trăm bốn mươi lăm đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 004855 ngày 06/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. *Nơi nhận:

Cỡ chữ