- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28 /2020/HSST Ngày: 23/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Tú và ông Phan Sỹ Hùng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị An - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2020/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2020 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41 ngày 10/6/2020 đối với bị cáo:
Lê Ngọc L – tên gọi khác: không; sinh ngày 23/8/198; Nơi ĐKHKTT: Xóm Bình Ngh - xã Nghĩa B – Nghĩa Đàn – Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông Lê Ng – đã chết và bà Vũ Thị H – sinh năm 196; vợ: Dương Thị L sinh năm 198 và có 02 con, lớn sinh năm 200, nhỏ sinh năm 201; tiền án, tiền sự: chưa có. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Lê Ngọc L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Lê Ngọc L là đối tượng nghiện ma túy, sáng ngày 19/12/2019 L lên cơn nghiện ma túy nên đi tìm ma túy mua về để sử dụng. Lê Ngọc L đi bộ từ nhà ở xóm Bình Nghĩa đến khu vực nhà máy sữa TH thuộc xóm Bình Nghĩa, xã Nghĩa Bình thì gặp Nguyễn Mạnh H sinh năm 198 trú cùng xóm với L cũng là đối tượng nghiện ma túy nên khi nói chuyện cả hai thống nhất góp mỗi người 50.000đ để đi mua ma túy. H đưa cho L 50.000đồng rồi Hùng điều khiển xe máy BKS 37B2 – 304.15 nhãn hiệu Honda Wave S chở L đi theo đường mòn Hồ CHí Minh đến khu vực chợ Bãi Trành, thuộc xã Bãi Trành, huyện Như Xuân, Thanh Hóa, khi đến nơi, H là người đứng chờ còn Lãng đi vào chợ tìm mua ma túy. Vào chợ L gặp hỏi mua của một người phụ nữ khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,50m, mặc áo khoác chống nắng, bịt khẩu trang, đeo kính râm 02 gói heroin với giá một gói là 100.000đồng. L lấy 200.000đồng trả cho người phụ nữ này và cầm hai gói heroin, trong 200.000đồng này thì L và H góp mỗi người 50.000đồng, còn 100.000đồng nữa là của riêng L, bị cáo dùng số tiền này mua một gói ma túy nữa với mục đích dấu H để về sử dụng riêng. Sau khi mua được ma túy, L cất gói ma túy mua riêng vào tất chân bên trái, gói còn lại đưa ra gặp H rồi cả hai đi tìm nơi sử dụng hết. Sau đó H chở L quay về theo đường mòn Hồ Chí Minh đến xã Nghĩa Lâm thì L xuống xe đi bộ còn Hùng lái xe đi về nhà. Khi Lê Ngọc L đi đến khu vực Làng Tra, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn thì bị tổ công tác công an huyện Nghĩa Đàn kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy bên trong tất chân bên trái của Lê Ngọc L được gói bằng giấy màu trắng có kẻ sọc màu xanh. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lê Ngọc L khai nhận 01 gói bột màu trắng mà lực lượng công an thu giữ trong chiếc tất chân bên trái của Lê Ngọc L là gói ma túy mà L đã mua của người phụ nữ lạ mặt tại chợ Bãi Trành trước đó về chưa kịp sử dụng. Gói bột màu trắng thu giữ của Lê Ngọc L nghi là ma túy có khối lượng 0,14 gam.
Tại kết luận giám định số 46/KL – PC 09 ngày 24 tháng 12 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: gói chất bột màu trắng thu giữ của Lê Ngọc L là hê rô in.
Cáo trạng số 24/VKS – HS ngày 20/3/2020 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Lê Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định của bị cáo.
Đối với người phụ nữ lạ mặt mặt cao khoảng 1m 50 người tầm thước mặc áo choàng chống nắng kẻ hoa, đặc điểm như mô tả của bị cáo L thì cơ quan chức năng đã xác minh nhưng chưa có kết quả. Lúc nào xác minh được sẽ xử lý sau. Đối với Nguyễn Mạnh H người đi mua ma túy cùng Lê Ngọc L, sau khi góp tiền mua ma túy xong thì H và L đã sử dụng hết số ma túy đó, còn việc L mua riêng một gói ma túy và cất dấu tại tất chân trái thì anh Hùng không biết, vì vậy anh Nguyễn Mạnh H không đồng phạm với L về hành vi tàng trữ 0,14 gam hê rô in. Ngày 05 tháng 3 năm 2020 Công an huyện Nghĩa Đàn đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Mạnh H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, vật chứng đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Từ đó xác định được vào ngày 19/12/2019 khi Lê Ngọc L đang đi bộ trên khu vực làng Tra, xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Đàn có dấu hiệu bất thường thì bị lực lượng công an Nghĩa Đàn kiểm tra phát hiện thu giữ 01 gói chất bột màu trắng trong chiếc tất bên chân trái của L đang đi tìm nơi để sử dụng, sau này được cơ quan chức năng kết luận là heroin. Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS như cáo trạng quy kết là có căn cứ.
Xét tình hình tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm nên cần đưa vụ án ra xét xử kịp thời và nghiêm là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, bị cáo ý thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy gây nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do bản chất ăn chơi, đua đòi không biết làm chủ bản thân đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước đối với chất ma túy.Việc sử dụng ma túy trái phép gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, bố mẹ bị cáo là người có công với nhà nước được tặng huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, thu nhập thấp nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tang vật vụ án: Xét thấy 01 gói ma túy thu của bị cáo (số còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định) là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 19/12/2019.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư do Công an huyện Nghĩa Đàn ấn hành kích thước 22 x 12 cm phía trước phong bì thư có ghi “vật chứng thu giữ của Lê Ngọc L ngày 19/12/2019”. Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 23/3/2020.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Ngọc L phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Nghĩa Xuân; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |