- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN MƯỜI ĐÁNH BẠC CÙNG ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Trần Hữu Quý H (Tên gọi kh c: Đỏ), Trần Quang Th, Võ Thanh T, Cao Văn Ch phạm tội “Đ nh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN ĐẮK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HSST Ngày: 18/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKHÀ TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Qúy Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hưng
Bà Chu Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐăkHà tỉnh Kon Tum.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: bà Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐăkHà tỉnh KonTum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: Nguyễn Văn M; Sinh ngày 09 th ng 3 năm 1977; Tại: huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; Sinh năm: 1935; bị cáo có vợ là Lê Thị X1; Sinh năm: 1978; bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn M tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: Trần Quang Th; Sinh ngày 24 tháng 01 năm 1994; Tại: huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn TH1; Sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị L2; Sinh năm: 1964; bị cáo có vợ tên Đặng Thị NG1; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 13/8/2019 có hành vi “Đ nh bạc” bị Công an xã Đăk La, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xử phạt bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 1.500.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 22/8/2019. tiền án: Không; Bị cáo Trần Qaung Thái tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ ba: Trần Hữu Quý H; Tên gọi kh c: Đỏ; Sinh ngày 21 th ng 8 năm 1985; Tại: huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu H1; Sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị TH4 (Đã chết); bị cáo có vợ là Đinh Thị K; Sinh năm: 1992; bị c o có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Trần Hữu Quý H tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ tư: Võ Thanh T; Sinh ngày 20 th ng 10 năm 1979; Tại: huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: TDP7, thị trấn Đăk H, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ (Đã chết) và bà Trần Thị Đ1; Sinh năm: 1954; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hồng TH1; Sinh năm: 1983; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Võ Thanh T tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ năm: Lê Đình N; Sinh ngày 02 th ng 02 năm 1994; Tại: huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Nơi đăng k H TT: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: Thôn 8, xã Đăk Hring, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình X2; Sinh năm: 1948 và bà Cao Thị Đ4 (Đã chết); bị cáo có vợ là Y V; Sinh năm: 1995; bị c o có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Lê Đình N tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ sáu: Cao Văn Ch; Sinh ngày 07 th ng 6 năm 1995; Tại: huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum; Nơi đăng k H TT: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn R (Đã chết) và bà Viên Thị K5; Sinh năm: 1956; bị cáo có vợ là Lê Thị Tuyết V2; Sinh năm: 1998; bị cáo có 01 người con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Cao Văn Ch tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn Th1; sinh năm: 1966; Địa chỉ: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt không có lý do.
- Anh Cao Văn Đ1; sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 10 phút, ngày 05/8/2020 cơ quan Cảnh s t điều tra Công an huyện Đăk Hà nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một số đối tượng tụ tập tại nhà anh Nguyễn Văn M thuộc Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum đ nh bạc tr i phép ăn thua bằng tiền Việt Nam đồng. Lực lượng Công an huyện Đăk Hà tiến hành kiểm tra bắt quả tang c c đối tượng Lê Đình N, Võ Thanh T, Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th và Cao Văn Ch đang đ nh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ thu giữ trên chiếu bạc 6.540.000 đồng (gồm 200.000 đồng giữa chiếu bạc của ván bài đang đánh; 220.000 đồng phía sau vị trí ngồi của Tuấn là tiền xâu; tại vị trí trước chỗ ngồi của Nam là 400.000 đồng; tại vị trí trước chỗ ngồi của Thái là 2.100.000 đồng; tại vị trí trước chỗ ngồi của Hiền là 2.160.000 đồng; tại vị trí trước chỗ ngồi của Tuấn là 260.000 đồng; tại vị trí trước chỗ ngồi của Chí là 1.200.000 đồng); 02 bộ bài tây loại 52 lá; 01 chiếc chăn có họa tiết bông hoa, kích thước (1,6x2,1)m; 05 điện thoại di động các loại. Tiếp tục kiểm tra, Cơ quan điều tra thu giữ trên người Tuấn số tiền 3.710.000 đồng, thu giữ trên người Thái số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi bị bắt quả tang, Võ Thanh T, Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th và Cao Văn Ch tự nguyện giao nộp 04 xe môtô (gồm 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại Sirius màu xanh-đen, biển số 82B1-415.67; 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại NouVo màu vàng-đen, biển số 82E1-017.93; 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại NouVo màu đen-đỏ-trắng, biển số 82H1-004.70; 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ-đen, biển số 82H1-058.95).
Qua quá trình điều tra, x c định được: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 05/8/2020, sau khi nhậu xong Nguyễn Văn M và Lê Đình N ngồi uống nước, nói chuyện tại nhà Mười thì Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th và Võ Thanh T điều khiển xe môtô đến. Trong lúc ngồi chơi, thấy nhiều người tập trung tại nhà, Mười nảy sinh định tổ chức đ nh bạc để thu tiền xâu, Mười nói “tụi bây có làm vài ván bài không tao mua bài về đánh”; Thái nói “có chơi thì chơi sớm rồi nghỉ” thì tất cả đồng . Lúc này, Mười đi bộ đến quán tạp hóa “Cô T m” của chị Nguyễn Thị Yến (sinh năm 1978; trú tại Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum) mua 2 bộ bài tây loại 52 l đem về nhà nói “có đánh thì vào phòng mà đánh” và chỉ tay vào phòng ngủ đầu tiên rồi Mười đi vào phòng ngủ lấy một chiếc chăn kích thước (1,6x2,1)m để trải xuống nền phòng ngủ ngồi đ nh bài; Tuấn, Hiền, Nam, Thái thống nhất đ nh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi đi ngang qua nhà Mười thì Cao Văn Ch thấy trước sân nhà Mười có dựng nhiều xe môtô; Chí ghé vào thấy Tuấn, Hiền, Nam và Th i đang đ nh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền nên tham gia đ nh bạc cùng.
Cách thức đ nh bạc (bài liêng) như sau: Trước khi bắt đầu ván bài, mỗi người chơi đặt 20.000 đồng ra giữa chiếu bạc (gọi là tiền mậu); sau đó sử dụng bộ bài tây 52 l chia đều cho mỗi người 03 l bài, sau khi xem bài người chơi giữ bí mật các lá bài của mình và đưa ra lựa chọn “úp bài” tức bỏ không đặt thêm tiền, người chơi kết thúc ván bài và mất tiền mậu đã đặt hoặc “theo” tức là đặt thêm tiền cược bằng với mức tiền cược của người cược trước hoặc “tố” tức là đặt cược thêm tiền với mức tiền cược lớn hơn; v n bài đầu tiên quyền tố thuộc về người chia bài, từ ván thứ hai trở đi người thắng của v n bài trước là người tố đầu tiên, nếu người tố đầu úp bài thì người chơi sau theo thứ tự được quyền tố; quy định tiền tố từ 20.000 đồng đến tối đa 100.000 đồng, mỗi người chỉ được tố tối đa 3 lần và ván bài tố đến 100.000 đồng mà có người theo thì người thắng v n bài đó phải trích lại 10.000 đồng cho chủ nhà (gọi là tiền xâu). Ván bài kết thúc khi chỉ còn một người không úp bài là người thắng cuộc hoặc khi không có người “tố thêm”, lúc này những người chơi còn lại so bài ai lớn hơn sẽ thắng.
Quy ước tính điểm, thứ tự và chất bài: Các lá bài 10, J, Q, tính 0 điểm, A (Át) tính 1 điểm, các lá bài từ 2 đến 9 tính điểm tương ứng với số trên lá bài; lá bài 2 nhỏ nhất và tăng dần đến lá bài A lớn nhất; chất bài cao dần từ bích, chuồn, rô, cơ. C ch tính thắng thua có bốn thứ hạng: 1. Bài “sáp”, là bài có ba lá cùng số hạng, nếu người chơi cùng có bài s p thì s p lớn hơn sẽ thắng; bài sáp là bài lớn nhất, thắng tất cả các bài còn lại. 2. Bài “liêng”, là bài có ba lá có số hạng liền kề nhau, nếu người chơi cùng có bài liêng thì liêng lớn hơn sẽ thắng, trường hợp hai liêng giống nhau thì so sánh chất bài cao hơn sẽ thắng; bài liêng là bài lớn thứ hai sau bài sáp, thắng hai bài còn lại. 3. Bài “ba tây”, là bài có ba l hình người (gồm các lá bài J, Q, K), nếu người chơi cùng có bài ba tây thì so sánh chất bài cao hơn sẽ thắng; bài ba tây lớn thứ ba, thua bài sáp, bài liêng và thắng bài còn lại. 4. Bài “điểm”, là khi không có bài sáp, bài liêng và bài ba tây thì cộng điểm của ba lá bài lại và chỉ lấy số hàng đơn vị, bài ai cao điểm nhất sẽ thắng và 9 điểm là lớn nhất, nếu người chơi bằng điểm thì so sánh chất bài, chất bài cao hơn sẽ thắng. Người thắng sẽ hưởng hết số tiền mậu, tiền tố; trường hợp không ai tố thì người tham gia đầu tiên trong v n bài được hưởng toàn bộ số tiền mậu.
Qúa trình điều tra, c c đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi đ nh bạc nêu trên. Các đối tượng khai nhận tổng số tiền sử dụng vào mục đích đ nh bạc là 6.540.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng). gồm:
+ Võ Thanh T sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đ nh bạc.
+ Trần Quang Th sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đ nh bạc.
+ Trần Hữu Quý H sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đ nh bạc.
+ Lê Đình N sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đ nh bạc.
+ Cao Văn Ch sử dụng số tiền 440.000 đồng để đ nh bạc.
Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 05/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh on Tum đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N và Cao Văn Ch về tội “Đ nh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N và Cao Văn Ch về tội “Đ nh bạc ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 14 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Quang Th từ 16 đến 22 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 ngày tạm giữ (từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Võ Thanh T từ 14 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 ngày tạm giữ (từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Hữu Quý H từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 04 ngày tạm giữ (từ ngày 05/8/2020 đến ngày 09/8/2020), bằng 12 ngày cải tạo không giam giữ
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Đình N từ 9 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 ngày tạm giữ (từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Cao Văn Ch từ 9 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 ngày tạm giữ (từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây loại 52 lá; 01 chiếc chăn có họa tiết hình bông hoa trên mặt có các màu xanh lá cây, vàng, hồng kích thước (1,6x2,1)m
- Tịch thu xung quỹ ngân sách nhà nước đối với số tiền 6.540.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng) được sử dụng vào mục đích đ nh bạc
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh s t điều tra Công an huyện Đăk Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N và Cao Văn Ch đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như c o trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 05/8/2020, Nguyễn Văn M sử dụng chỗ ở thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình tại Thôn 3, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum tổ chức cho Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N và Cao Văn Ch đ nh bạc bằng hình thức đ nh bài “Liêng” thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu lợi bất chính từ thu tiền xâu. Đến khoảng 18 giờ 10 cùng ngày, khi Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N, Cao Văn Ch đang đ nh bạc thì bị lực lượng Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk Hà bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.540.000 đồng và c c đồ vật, tài liệu kh c liên quan. Qu trình điều tra, x c định tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đ nh bạc ngày 05/8/2020 là 6.540.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng). Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị c o có đủ độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên đã đủ yếu tố cấu thành tội đ nh bạc, như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng ph p luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi đ nh bạc trái phép của các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Võ Thanh T, Lê Đình N và Cao Văn Ch là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến c c quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, trong đó Mười không trực tiếp tham gia đ nh bạc mà là người khởi xướng, tổ chức đ nh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu. Pháp luật nước ta nghiêm cấm c c hành vi đ nh bạc dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Bản thân bị cáo Trần Quang Th và Võ Thanh T đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi Đ nh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn phạm tội. Vì vậy các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Cao Văn Ch trước khi thực hiện hành vi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự được x c định là người có nhân thân tốt.
Đối với bị cáo Trần Hữu Quý H vào ngày 27/5/2003 có hành vi “cố ý gây thương tích” bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xử phạt 10 tháng tù. Bị cáo Trần Quang Th ngày 13/8/2019 có hành vi “đánh bạc” bị Công an xã Đăk La, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo Võ Thanh T ngày 28/4/2017 có hành vi “đánh bạc” bị Công an thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên x c định các bị cáo là người có nhân thân xấu.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Qu trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần cho các bị cáo được hưởng. Riêng đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Cao Văn Ch phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xét thấy cần cho các bị c o được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo trong đồng phạm:
Đây là vụ n “Đ nh bạc” có tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước. Trong đó bị cáo Nguyễn Văn M giữ vai trò là người rủ rê, khởi xướng, cung cấp bài, chiếc chăn làm công cụ đ nh bạc, cho sử dụng chỗ ở thuộc sở hữu quản lý của mình vào việc đ nh bạc. Các bị cáo Lê Đình N, Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th, Võ Thanh T, Cao Văn Ch giữ vai trò là người thực hành. Vì vậy, các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th, Võ Thanh T, Cao Văn Ch phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện, tương ứng với mức độ của hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
- 02 bộ bài tây loại 52 lá; 01 chiếc chăn có họa tiết hình bông hoa trên mặt có các màu xanh lá cây, vàng, hồng kích thước (1,6x2,1)m thuộc sở hữu của Nguyễn Văn M; ngày 05/8/2020 Mười đưa c c đồ vật này cho Trần Hữu Quý H, Trần Quang Th, Lê Đình N, Võ Thanh T và Cao Văn Ch sử dụng làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi đ nh bạc. X c định đây là công cụ c c đối tượng sử dụng vào việc đ nh bạc cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 6.540.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng) được sử dụng vào mục đích đ nh bạc nên cần tịch thu xung quỹ ngân sách nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Trần Hữu Quý H (Tên gọi kh c: Đỏ), Trần Quang Th, Võ Thanh T, Cao Văn Ch phạm tội “Đ nh bạc”.
[1] Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đăk La, huyện Đăk Hà nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
+ Xử phạt bị cáo Cao Văn Ch 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020 là 06 ngày x 3 = 18 ngày. Còn lại bị cáo Cao Văn Ch phải chấp hành 10 (Mười) tháng, 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đăk La, huyện Đăk Hà nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
+ Xử phạt bị cáo Lê Đình N 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020 là 06 ngày x 3 = 18 ngày. Còn lại bị cáo Lê Đình N phải chấp hành 10 (Mười) tháng, 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đăk Hring, huyện Đăk Hà nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Trần Quang Th 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020 là 06 ngày x 3 = 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn lại bị cáo Trần Quang Th phải chấp hành 17 (Mười bảy) tháng, 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đăk La, huyện Đăk Hà nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
+ Xử phạt bị cáo Trần Hữu Quý H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 09/8/2020 là 04 ngày x 3 = 12 ngày. Còn lại bị cáo Trần Hữu Quý H phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng, 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đăk La, huyện Đăk Hà nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
+ Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 11/8/2020 là 06 ngày x 3 = 18 ngày. Còn lại bị cáo Võ Thanh T phải chấp hành 15 (Mười lăm) tháng, 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Võ Thanh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo Võ Thanh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Hà trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Lê Đình N cho Ủy ban nhân dân xã Đăk Hring, huyện Đăk Hà, tỉnh KonTum giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo Lê Đình N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đăk Hring trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Cao Văn Ch cho Ủy ban nhân dân xã Đăk La, huyện Đăk Hà, tỉnh KonTum giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn M, Trần Quang Th, Trần Hữu Quý H, Cao Văn Ch có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đăk La trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo.
Miễn khấu trừ thu thập cho các bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tây loại 52 lá; 01 chiếc chăn có họa tiết hình bông hoa trên mặt có các màu xanh lá cây, vàng, hồng kích thước (1,6x2,1)m
(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 09 tháng 11 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 18/QĐ-VKS ngày 05/11/2020 của VKSND huyện Đăk Hà).
Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền: 6.540.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng). Theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 12/11/2020 tại Kho bạc Nhà nước.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê Đình N, Trần Hữu Quý H (Tên gọi kh c: Đỏ), Trần Quang Th, Võ Thanh T, Cao Văn Ch: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân s ch Nhà nước.
[4] Về quyền kh ng c o: Căn cứ c c Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản n được niêm yết.
“Trường hợp Bản n được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đắk Hà; - Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Hà; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quý Nhân |