- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh T... - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HSST Ngày 02/6/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng
2. Bà Tưởng Thị Thu
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Dương Văn Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng, Kiểm sát viên VKSND huyện Chiêm Hóa.
Ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2020/TLST - HS ngày 30 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST - HS ngày 19/5/20209, đối với bị cáo:
Họ và tên: BÙI THANH T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 30/8/1980; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: Thôn NC, xã TB, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Bùi Dũng T (đã chết); Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H, sinh năm 1960; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ nhất; Bị cáo có vợ là: Ma Thị M, sinh năm 1975; Con: Có 01 con, sinh năm 2010;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Hoàng Văn D, sinh năm 1998; trú tại: Thôn KP1, xã TH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt.
2. Ma Thị M, sinh năm 1975; trú tại: Thôn NC, xã TB, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01 giờ 50 phút, ngày 19/02/2020, tại tổ VL, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Công an huyện Chiêm Hóa phối hợp với Công an thị trấn VL lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Thanh T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, T tự nguyện giao nộp 02 gói nhỏ, trong đó có 01 gói có đặc điểm gói bằng nilong màu trắng mép túi có viền đỏ, 01 gói có đặc điểm gói bằng nilong có chữ nhiều màu, bên trong cả 02 gói có chứa chất bột vón cục màu trắng ngà, T khai là Heroine mục đích để sử dụng.
Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi 03 giờ 35 phút ngày 19/02/2020 tại Công an huyện Chiêm Hóa đối với Bùi Thanh T, kết quả (+) dương tính.
Tại kết luận giám định số: 199/GĐKTHS ngày 21/02/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột thu giữ của Bùi Thanh T là chất ma túy (loại Heroine), có khối lượng là 0,523gam (không phảy năm hai ba gam).
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ ngày 14/02/2020, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2 - 082.93 từ nhà đi thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang mục đích tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến gần khu vực cổng chợ Trung tâm thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng một mình ở cạnh đường, T đến hỏi và mua được 02 gói Heroine có đặc điểm 01 gói được gói bằng nilong màu trắng mép túi có viền đỏ, gói còn lại được gói bằng nilong có chữ nhiều màu với giá 1.200.000đ, T cất 02 gói Heroine vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà, về đến đoạn đường vắng người T lấy 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài là túi nilong màu trắng, mép túi có viền màu đỏ san ra một ít để sử dụng bắng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại T chia thành 02 gói nhỏ trong đó 01 gói T gói bằng túi nilong trên, 01 gói bên ngoài gói bằng mảnh giấy trắng có chữ màu đen, xong T cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, T đang ở nhà thì Hoàng Văn D, là người quen biết với T từ trước đến hỏi:“Chú có hàng không, để cho cháu 200.000đ” (ý hỏi mua 200.000đ Heroine), T nói: “có, đưa tiền đây”, D đưa cho T 200.000đ, T cầm tiền và lấy trong túi quần đang mặc ra đưa cho D 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy trắng có chữ màu đen, D cầm gói Heroine đi về đến đoạn đường vắng người sử dụng bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số tiền bán Heroine T đã chi tiêu cá nhân hết.
Khoảng 22 giờ ngày 18/02/2020, D đến nhà T chơi, trong lúc ngồi chơi T rủ D đi thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa chơi, D đồng ý (khi đi T mang theo 02 gói Heroine trên), T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2 - 082.93 chở D đi thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa. Khoảng 01 giờ ngày 19/02/2020 khi đến tổ VL, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa thì bị Công an huyện Chiêm Hóa phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của Bùi Thanh T 01 xe mô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 22B2 - 082.93 và 01 đăng ký xe mô tô xe máy số 050258.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 28/CT-VKSCH ngày 29/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Bùi Thanh T về 02 tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thanh T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra và đã được nêu trong Cáo trạng, không phát sinh tình tiết mới. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Thanh T và đề nghị HĐXX:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Bùi Thanh T phải chịu hình phạt chung theo quy định. Hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/02/2020.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 bì, có chữ ký xác nhận của bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
+ Trả cho chị Ma Thị M 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2 - 082.93 và 01 đăng ký xe mô tô xe máy số 050258.
+ Truy thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bị cáo bán Heroine mà có.
Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét thấy:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình bắt quả tang, khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục tạm giữ, tạm giam đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 14/02/2020 tại thôn NC, xã TB, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Thanh T đã có hành vi bán trái phép cho Hoàng Văn D 01 gói Heroine với giá 200.000đ. Hồi 01 giờ 50 phút ngày 19/02/2020, tại tổ VL, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (loại Heroine) có khối lượng là 0,523 gam (không phẩy năm hai ba gam), do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Bùi Thanh T về 02 tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán, tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước.
Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Trong vụ án này bị cáo phạm cùng lúc 02 tội, đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo tàng trữ khối lượng là 0,523 gam Heroine nên cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt; đối với tội mua bán trái phép chất ma túy cần xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật; cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Bùi Thanh T phải chịu hình phạt chung. Áp dụng khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
+ Đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 bì dán kín, mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 22B2 - 082.93 và 01 đăng ký xe mô tô xe máy số 050258, quá trình điều tra xác định tài sản này là của chị Ma Thị M (vợ bị cáo), bị cáo là người nghiện ma túy nên không có sự đóng góp trong việc mua chiếc xe mô tô trên, do vậy cần trả chiếc xe này cho chị Ma Thị M.
+ Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bị cáo bán Heroine mà có.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vấn đề khác:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Thanh T, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng với quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét giải quyết. Việc T tàng trữ trái phép chất ma túy khi bị bắt D không biết nên HĐXX cũng không có căn cứ xem xét giải quyết.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn D, hiện đang xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.
Về nguồn gốc số Heroine Bùi Thanh T khai mua của người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, đến nay không xác định được nên không có căn cứ xử lý, do vậy HĐXX cũng không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh T phạm 02 tội: Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (19/02/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ được của bị cáo, hiện niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ ký xác nhận của các bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
+ Trả cho chị Ma Thị M 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2 - 082.93 và 01 đăng ký xe mô tô xe máy số 050258.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/4/2020 giữa cơ quan điều tra công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa)
+ Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bị cáo bán Heroine mà có.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016 - UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14; bị cáo Bùi Thanh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 02/6/2020. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV, CA tỉnh TQ; - Trại tạm giam CA tỉnh TQ; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Hạnh Quỳnh |