vanban.org

Bản án 28/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 17/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đàm Minh Nguyện phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt bị cáo Đàm Minh Nguyện 12 (Mười hai) tháng tù nhưng được trừ thời Vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Minh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đàm Minh Nguyện phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HSST
Ngày 17/8/2020

NHÂNDANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Tuyên

2. Bà Đinh Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2020 đối với:

Bị cáo Đàm Minh N.Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 07 tháng 11 năm 1989 tại tỉnh Bắc Kạn.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn T và bà Nông Thị L. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06 tháng 02 năm 2020 đến ngày 15 tháng 02 năm 2020 thì được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

* Người làm chứng:

Anh Mã Văn D, sinh năm 1979

Trú tại: thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút, ngày 06/02/2020 tại đường nội thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Đàm Minh N, sinh năm 1989, trú tại thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi tàng trữ trái phép 03 (Ba) gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và màu hồng nghi là chất ma túy, được N cất giấu bên trong chiếc tất đang đi bên chân trái. Tiến hành thu giữ và niêm phong 03 (Ba) gói nhỏ trên trong phong bì ký hiệu N, ngoài ra còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASTEL màu xanh viền đen đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước NOVOCOIN 3% chưa qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu N1; 01 ví da màu nâu đen bên trong có số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu N2.

Tiến hành mở niêm phong, đánh số thứ tự và ký hiệu 03 (Ba) gói nhỏ bên trong phong bì có ký hiệu N, từ A01, A02, A03, cân xác định khối lượng như sau:

- Số chất bột màu trắng và màu hồng có trong gói nhỏ A01 có khối lượng là 0,106g (Không phẩy một không sáu gam), sau khi cân niêm phong lại trong phong bì ký hiệu GĐ1 gửi đi giám định.

- Số chất bột màu trắng và màu hồng có trong gói nhỏ A02 có khối lượng 0,143g (Không phẩy một bốn ba gam), sau khi cân niêm phong trong phong bì ký hiệu GĐ2 gửi đi giám định.

- Số chất bột màu trắng và màu hồng có trong gói nhỏ A03 có khối lượng là 0,018g (Không phẩy không một tám gam), sau khi cân niêm phong lại trong phong bì ký hiệu GĐ3 gửi đi giám định.

Tổng khối lượng số chất bột màu trắng và màu hồng có trong 03 (Ba) gói nhỏ trên có khối lượng là 0,267g (Không phẩy hai sáu bảy gam).

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ N khai nhận: Ngày 05/02/2020, N mua với một người đàn ông lạ mặt tại khu vực ngã ba đường 27 thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn 03 (Ba) gói nhỏ ma túy Heroine với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), các gói nhỏ trên có đặc điểm bên ngoài được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong có chứa chất ma túy dạng bột màu trắng lẫn màu hồng, sau khi mua được ma túy, N mang về nhà và lấy một phần ma túy ở trong một gói ra để sử dụng, số còn lại N gói lại như ban đầu và cất cả 03 (Ba) gói ma túy vào trong chiếc tất chân để trong nhà. Đến khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 06/02/2020 khi Nguyện đang ở nhà thì có Mã Văn D, sinh năm 1979 trú tại thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn điện thoại rủ N đi mua ma túy về sử dụng, N đồng ý, rồi lấy đôi tất đang cất giấu 03 (Ba) gói ma túy hôm trước ra đi vào chân, chiếc tất có 03 (Ba) gói ma túy đi chân trái, rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 3 để đi cùng D, rồi D điều khiển xe mô tô chở N đi xuống thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, đi được một đoạn đường thì xe bị hỏng, N đã mang chiếc xe vào gửi tại nhà chú của N là ông Đàm Văn L sinh năm 1970, trú tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn rồi mượn xe mô tô của ông L chở D tiếp tục đi xuống thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Khi đi đến khu vực Th thuộc phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì D bảo N dừng xe, sau đó D lấy điện thoại gọi cho một người đàn ông nhờ hỏi mua hộ ma túy cho D và N, sau đó D bảo N tiếp tục điều khiển xe đi được một đoạn thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ, tại đây D hỏi N có bao nhiêu tiền, N trả lời có 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), rồi N lấy đưa cho người đàn ông 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), D cũng đưa số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) cho người đàn ông này; người đàn ông này cầm tổng số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) rồi đi đâu khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho D 08 (Tám) gói nhỏ ma túy đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc bên trong có chứa chất ma túy, D trả công cho người này 01 (Một) gói, rồi N và D lấy ra 03 (Ba) gói và cùng nhau sử dụng, còn lại 04 (Bốn) gói D cầm. Sau đó cả hai điều khiển xe mô tô đi về, đến đoạn đường Quốc lộ 3, km số 7 thuộc thôn N, xã C, huyện B, D bảo N dừng xe rồi đưa cho N 03 (Ba) gói ma túy, còn D giữ lại 01 (Một) gói. N cầm số ma túy trong tay tiếp tục điều khiển xe mô tô chở D đi về nhà. Đi đến khu vực đường Quốc lộ 3 thuộc thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì N nhìn thấy một nhóm người đang đứng tại lề đường, nghĩ là Công an nên N đã vứt 03 (Ba) gói nhỏ ma túy này xuống lề đường. Sau đó cả hai cùng đi vào nhà chú của N là ông Đàm Văn L để trả xe mô tô đã mượn và để D lấy xe của D đi về. N một mình đi bộ về nhà, khi đến khu vực đường nội thôn thuộc thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn bắt và thu giữ cùng 03 (Ba) gói nhỏ ma túy trong chiếc tất đang đi bên chân trái của N.

Tại Bản kết luận giám định số: 41/KTHS - MT ngày 14/02/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong 03 (Ba) phong bì ký hiệu GĐ1, GĐ2, GĐ3 gửi giám định là chất ma túy (loại Heroine và Methamphetamin) có tổng khối lượng 0,267g (Không phẩy hai sáu bảy gam).

Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKSBT ngày 30tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Đàm Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ……………………………………………………………………………………………………………….

c, Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …’’

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B bổ sung, thay đổi nội dung cáo trạng và quyết định truy tố bị cáo Đàm Minh N theo quy định tại điểm i, khoản 1, điều 249/BLHScó nội dung “có 2 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này’’và đề nghị:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.

Xử phạt bị cáo Đàm Minh N từ 12tháng đến 15tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 06/02/2020 đến ngày 15/02/2020.

* Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: không áp dụng đối với bị cáo.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T41” do Cơ quan giám định hoàn trảbên trong có phong bìký hiệu GĐ1 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,080g (Không phẩy không tám không gam), phong bì ký hiệu GĐ2 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,110g (Không phẩy một một không gam), mẫu chất bột trong phong bì ký hiệu GĐ3 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,004g (Không phẩy không không bốn gam);

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “N1”bên trong có 01 (Một) xi lanh nhựa cùng 01 (Một) lọ nước NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng;

+ 01 phong bì ký hiệu N4 bên trong có giấy gói cùng phong bì niêm phong ban đầu;

+ 01 ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng.

-Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu xanh viền đen kiểu máy bàn phím cứng cùng 01 sim điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo.

+ Số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm như cáo trạng đã truy tố và không có khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vànói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhữ ng người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa xác định: Do bản thân sử dụng chất ma túy nên vào khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 06/02/2020 tại đoạn đường nội thôn, thuộc thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn bị cáo Đàm Minh N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,267g (Không phẩy hai sáu bảy gam) chất ma túy loại Heroine và Methamphetamin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Số ma túy này bị cáo mua vào ngày 05/02/2020 với người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu tại khu vực ngã ba đường 27 thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSBT ngày 30 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát bổ sung, thay đổi cáo trạng với nội dung truy tố bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS. Xét thấy bị cáo tàng trữ hai loại ma tuý là Heroine và Methamphetamin có tổng khối lượng là 0,267g (không phẩy hai sáu bảy gam). Hai loại ma tuý mà bị cáo tàng trữ có tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện B bổ sung nội dung truy tố vẫn thuộc quy định khoản 1 Điều 249/BLHS và không làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Như vậy, việc truy tố bị cáo N theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS mới đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo Đàm Minh N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/ BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm, xâm phạm quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Bị cáo Đàm Minh Nguyệncó nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”theo quy định tại điểm skhoản 1 Điều 51/BLHS.

. Trong vụ án này Đàm Minh N khai mua ma túy với người đàn ôngkhông biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu tại khu vực ngã ba đường 27 thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Do không xác định được đối tượng cụ thể nên không có căn cứ xác minh.

Đối với người đàn ôngbán ma tuý cho bị cáo N và anh D vào ngày 06/02/2020 tại khu vực T, phường X, thành phố B do không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với Mã Văn D là người sử dụng xe mô tô chở bị cáo N đi mua ma tuý và cùng nhau sử dụng vào ngày 06/02/2020. Quá trình điều tra không thu giữ được ma tuý mà D và bị cáo mua ngày 06/02/2020do đó không có cơ sở để xem xét xử lý hành vi của D.

Đối với ông Đàm Văn L là người cho N mượn xe để đi mua ma tuý ngày 06/02/2020 tuy nhiên ông L không biết việc N sử dụng xe để đi mua ma tuý nên không xem xét xử lý đối với ông L.

. Về hình phạt bổ sung:Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định. Qua xác minh tại địa phương không có tài sản nên không có khả năng thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng:Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T41” do Cơ quan giám định hoàn trả bên trong có phong bì ký hiệu GĐ1 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,080g (Không phẩy không tám không gam), phong bì ký hiệu GĐ2 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,110g (Không phẩy một một không gam), mẫu chất bột trong phong bì ký hiệu GĐ3 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,004g (Không phẩy không không bốn gam);

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “N1” bên trong có 01 (Một) xi lanh nhựa cùng 01 (Một) lọ nước NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng;

+ 01 phong bì ký hiệu N4 bên trong có giấy gói cùng phong bì niêm phong ban đầu;

+ 01 ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng của bị cáo không còn giá trị sử dụng.

- Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu xanh viền đen kiểu máy bàn phím cứng cùng 01 sim điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo.

+ Số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).

. Về án phí:Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Đàm Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS.

Xử phạt bị cáo Đàm Minh N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2020 đến ngày 15/02/2020.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

* Về vật chứng:Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T41” do Cơ quan giám định hoàn trả bên trong có phong bì ký hiệu GĐ1 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,080g (Không phẩy không tám không gam), phong bì ký hiệu GĐ2 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,110g (Không phẩy một một không gam), mẫu chất bột trong phong bì ký hiệu GĐ3 có chữa chất bột màu trắng lẫn màu hồng còn lại 0,004g (Không phẩy không không bốn gam);

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu “N1” bên trong có 01 (Một) xi lanh nhựa cùng 01 (Một) lọ nước NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng;

+ 01 phong bì ký hiệu N4 bên trong có giấy gói cùng phong bì niêm phong ban đầu;

+ 01 ví màu nâu cũ, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu xanh viền đen kiểu máy bàn phím cứng cùng 01 sim điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo.

+ Số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).

Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.

* Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Bị cáocó quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ