- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quang Cảnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T và bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng h nh s; Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HS-ST Ngày: 05-3-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hùng Dương;
2. Ông Đặng Minh Lý;
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương m phiên tòa t c ng khai v án h nh s sơ th m th lý số 279/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019 theo quyết định đưa v án ra t số 12/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 đối v i các bị cáo:
1. Hoàng Đ nh T, sinh năm 1994 tại t nh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã D, huyện D, t nh Nghệ An. Tạm trú: Khu phố 2, phường T, thị ã B, t nh B nh Dương. Nghề nghiệp: C ng nhân; tr nh độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Hoàng Đ nh C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); tiền án, tiền s : Kh ng. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/6/2019 và tạm giam cho đến nay.
2. Huỳnh Văn C, sinh năm 2000 tại t nh Đồng Tháp. Nơi ĐKHKTT: Ấp 4, xã A, huyện T, t nh Đồng Tháp. Tạm trú: Khu phố 2, phường T, thành phố T. Nghề Nghiệp: Công nhân; tr nh độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị N; tiền án, tiền s : Kh ng. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/6/2019 và tạm giam cho đến nay.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T là bạn quen biết nhau và là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 14/6/2019, trong lúc T đang ngồi chơi tại tiệm Internet (Không rõ tên) tại khu phố 1, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, t nh B nh Dương th T nảy sinh ý định mua ma túy đem về s d ng nên T đã dùng máy tính của tiệm Internet nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho C để rủ C hùn tiền mua ma túy thì C đồng ý và hẹn ngày hôm sau sẽ lấy xe mô tô ch T đi mua ma túy. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/6/2019, C s d ng xe mô tô hiệu Yamaha Sirus, biển số 54M4-3703 ch T từ tiệm Internet thuộc khu phố 1, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, t nh B nh Dương đến huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để t m mua ma túy. Trư c khi đi, C hùn số tiền 800.000 (Tám trăm ngàn) đồng và T hùn số tiền là 1.000.000 (Một triệu) đồng, tổng số tiền hùn là 1.800.000 (Một triệu tám trăm ngàn) đồng để mua ma túy. Khi đến khu v c huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, C dùng điện thoại Nokia màu đen có sim số 0393.503.775 của T để điện thoại cho một người nam thanh niên (Không rõ họ tên và địa ch ) có sim số 0764.696.339 để hỏi mua ma túy v i số tiền 1.800.000 (Một triệu tám trăm ngàn) đồng th được người nam thanh niên đồng ý và hẹn C đến nơi hẹn để giao ma túy. Khoảng 10 phút sau, người nam thanh niên đến nơi hẹn lấy số tiền 1.800.000 (Một triệu tám trăm ngàn) đồng từ C và đưa cho C một bịch nylon bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua ma túy xong, C đưa cho T cất giữ ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển số 54M4-3703 ch T đi về thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày 15/6/2019, khi C và T đi đến đoạn đường đê bao thuộc khu phố 2, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương th bị l c lượng Công an phường Tân An phối hợp v i l c lượng Dân phòng phường Tân An đang tuần tra tình hình an ninh trật t trên địa bàn phường Tân An phát hiện C điều khiển xe mô tô biển số 54M4 – 3703 ch T có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu C dừng e để tiến hành kiểm tra thì phát hiện T cất giấu ma túy trong túi quần trư c bên trái nên C ng an phường Tân An tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ số vật chứng, gồm: 01 (Một) bịch nylon kéo kín miệng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (Đã được niêm phong trong 01 (Một) bì thư dán kín); 01 (Một) xe mô tô biển số 54M4 – 3703; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen có sim số 0393.503.775 (Bút l c số 06, 07, 48 68, 69 89). Cùng ngày 15/6/2019, C ng an phường Tân An chuyển hồ sơ v việc cùng các đối tượng và vật chứng nêu trên đến Cơ quan C sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương để x lý theo th m quyền.
Ngày 15/6/2019, Cơ quan C sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số: 420/QĐ-CQ.CSĐT g i đến Phòng Kỹ thuật hình s – Công an t nh Bình Dương để giám định số ma túy thu giữ của Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T.
Ngày 24/6/2019, Phòng Kỹ thuật hình s – Công an t nh B nh Dương có bản Kết luận giám định số 468/MT-PC09 kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (Một) túi nylon miệng k o dính hàn kín được đ ng trong một trong một b thư niêm phong có chữ ký người bị bắt Hoàng Đ nh T, Huỳnh Văn C, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Trọng và h nh dấu đỏ C ng an phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương g i giám định là ma túy, có khối lượng: 2,4907 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, có khối lượng: 2,3689 gam (Bút l c số 08, 12).
Đối v i người nam thanh niên đã bán ma túy cho Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T. Ngày 24/9/2019, Cơ quan C sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một ra các Lệnh thu giữ điện tín yêu cầu Tổng Công ty Viễn thông Viettel và Tổng công ty viễn thông Mobifone cung cấp thông tin chủ thuê bao; danh sách các cuộc gọi đi, cuộc gọi đến và nội dung các tin nhắn đối v i các số thuê bao di động số 0393.503.775 của Hoàng Đ nh T và số 0764.696.339 của nam thanh niên bán ma túy nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Do kh ng ác định rõ họ tên và địa ch cư trú đối v i người nam thanh niên đã bán ma túy cho Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T nên Cơ quan C sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp t c điều tra, ác minh làm rõ để x lý sau khi có đủ căn cứ (Bút l c số 102 - 108).
Quá tr nh điều tra ác định số vật chứng đã thu giữ như sau:
- Đối v i 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, có sim số 0393.503.775 thu giữ của Hoàng Đ nh T xét thấy là phương tiện do T và C s d ng để th c hiện hành vi phạm tội.
- Đối v i 01 (Một) e m t biển số 54M4 - 3703 có số khung RL8DCB6UME1012909, số máy RL8139FMBL1SE012909 do T đã mượn qua người bạn tên "Cu" tại tiệm Internet, thuộc khu phố 1, phường Tân Định, thị ã Bến Cát, t nh B nh Dương nhưng hiện tại vẫn kh ng ác định được họ tên chính ác và địa ch của đối tượng này. Quá tr nh ác minh, biển số 54M4 - 3703 là do anh Lê Ngọc Tú, sinh năm 1972, cư trú tại 314 l D, chung cư Lý Thường Kiệt, phường 7, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trên e m t nhãn hiệu Honda Wave S có số khung là Y-122794 và số máy là JC43E-0672240. Tuy nhiên, anh Tú tr nh bày kh ng đăng ký và s hữu e m t có biển số nêu trên. Ngày 31/10/2019, Cơ quan C sát điều tra - C ng an thành phố Thủ Dầu Một đã th ng báo và truy t m chủ s hữu e m t biển số 54M4 – 3703 có số khung RL8DCB6UME1012909, số máy RL8139FMBL1SE012909 tại Trung tâm Dịch v Phát thanh Truyền h nh B nh Dương nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến yêu cầu in nhận lại e (Bút l c số 93 - 111).
- Đối v i số ma túy thu giữ của Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T có khối lượng sau giám định là: 2,3689 gam.
Hiện tất cả số vật chứng đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân s thành phố Thủ Dầu Một để Hội đồng t
em t, quyết định lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 09/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s .
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần luận tội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hoàng Đ nh T và Huỳnh Văn C về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật H nh s , đồng thời đề nghị Hội đồng t áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình s x phạt đối v i các bị cáo mức h nh phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về trách nhiệm dân s : Không có.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nư c 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, có sim số 0393.503.775 là phương tiện dùng vào việc phạm tội và tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau giám định là 2,3689 gam là tang vật trong v án. Đối v i 01 (Một) e m t biển số 54M4 - 3703 có số khung RL8DCB6UME1012909, số máy RL8139FMBL1SE012909 hiện nay vẫn chưa ác định được chủ s hữu nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ban hành văn bản số 11/VKS-HS ngày 02/3/2020 để giao lại e m t trên cho Cơ quan C sát điều tra C ng an thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương tiếp t c tạm giữ và lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo kh ng có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều in giảm nhẹ h nh phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án và đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá tr nh kh i tố, điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, tr nh t , thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng h nh s . Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, kh ng ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết định, hành vi tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện là phù hợp v i quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp v i lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 15/6/2019, trên đoạn đường đê bao thuộc khu phố 2, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương, Huỳnh Văn C và Hoàng Đ nh T đã bị l c lượng C ng an phường Tân An phối hợp v i l c lượng Dân phòng phường Tân An tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái ph p chất ma túy có khối lượng là 2,4907 gam, loại Methamphetamine để nhằm m c đích s d ng. Như vậy, hành vi mà các bị cáo th c hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật H nh s . Các bị cáo có đủ năng l c chịu trách nhiệm h nh s . Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi mà các bị cáo th c hiện là nguy hiểm cho ã hội, âm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nư c đối v i chất ma túy. Hiện nay, t nh h nh nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng l p. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn ã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đ y lùi chính là có s tiếp tay của các bị cáo. Do đó, để có tác d ng giáo d c các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức h nh phạt nghiêm, tương ứng v i tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã th c hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi ã hội một thời gian để có tác d ng giáo d c các bị cáo tr thành c ng dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. V án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau th c hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là người nảy sinh ý định tàng trữ ma túy để s d ng nên có mức h nh phạt cao hơn bị cáo C.
T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s : Không có.
T nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s : Trong quá tr nh điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh. Đây là t nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh s . Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội cũng như t nh tiết giảm nhẹ, t mức h nh phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối v i các bị cáo là nhẹ so v i hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, cần có mức h nh phạt nặng hơn để giáo d c các bị cáo thành c ng dân tốt cho ã hội.
Về biện pháp tư pháp:
Đối v i 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, có sim số 0393.503.775 kh ng liên quan đến hành vi tàng trữ nên cần trả lại cho bị cáo T.
Đối v i 01 túi nylon chứa ma túy trọng lượng sau giám định là 2,3689 gam là tang vật trong v án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí sơ th m: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật H nh s ; các Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố t ng h nh s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và s d ng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T và bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
2/ Về h nh phạt:
Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật H nh s . X phạt bị cáo Hoàng Đ nh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 15/6/2019.
Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật H nh s . X phạt bị cáo Huỳnh Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 15/6/2019.
3/ Về biện pháp tư pháp:
Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động đã qua s d ng hiệu Nokia 105 màu đen, sim số: 0393.503.775 (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) b thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Hoàng Đ nh T, Huỳnh Văn C, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Trọng và h nh dấu đỏ C ng an phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy trọng lượng sau giám định là 2,3689 gam, theo kết luận giám định số 468/MT-PC09 ngày 24/6/2019.
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 045.20 ngày 09/12/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một)
4/ Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh s sơ th m.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND t nh B nh Dương; - VKSND t nh B nh Dương; - Công an t nh B nh Dương (PV06); - S Tư pháp t nh B nh Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - C ng an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi c c THA thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố t ng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Châu Giang |