- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Vũ Văn T 1 năm (một năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23 tháng 12 năm 2019).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HS-ST Ngày 06 - 03 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thiện Lợi.
Ông Vũ Tiến Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Văn T; sinh ngày: 05/10/1970. Tại Thái Bình; nơi cư trú: thôn L, xã A, huyện V, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn Th (đã chết). ông Th đã tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng hai, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; con bà Mai Thị K (đã chết); gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; vợ: Trịnh Thị M, sinh năm1973; có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1998. Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 42/2018/QĐ - TA ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng. Chấp hành xong tháng 8/2019. Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 26/12/2019 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Người chứng kiến:
+ Ông Phạm Duy H, sinh năm 1961, trú tại số nhà 06, đường V, tổ 41; phường Q, thành phố B ( Vắng mặt).
+ Ông Tăng Đình C, sinh năm 1957, trú tại số nhà 41, tổ 33, phường Q, thành phố B ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 23/12/2019 Vũ Văn T đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ nhà đến khu vực ngõ 12, đường C, tổ 50, phường Q, thành phố B với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây T gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không quen biết một gói ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Vũ Văn T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vực ngõ 02, đường C, tổ 49, phường Q thì bị tổ công tác của Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình nghi có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Phạm Duy H và ông Tăng Đình C, T đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của T giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1466 gam. Sau đó tổ công tác yêu cầu T và mời hai người chứng kiến về trụ sở Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình để tiến hành kiểm tra đối với T. Qua kiểm tra tổ công tác thu tại túi quần bên phải của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Matsstell màu đen - trắng và số tiền 10.000 đồng. Công an phường Quang Trung thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định số 493/KLGD – PC09, ngày 24/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi: “Vật chứng thu giữ của Vũ Văn T, sinh năm 1970, Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã A, huyện V, tỉnh Thái Bình, ngày 23/12/2019” là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1466 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi sáu gam)
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T không có ý kiến, khiếu nại gì về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình nêu trên.
Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSTPTB ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23 tháng 12 năm 2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo Vũ Văn T 0,1466 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi sáu gam).
- Trả lại bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại di động Matsstell màu đen - trắng và số tiền 10.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ kết tội bị cáo Vũ Văn T Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 23/12/2019 tại khu vực ngõ 02, đường C, tổ 49, phường Q, Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1466 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị cáo Vũ Văn T phù hợp với lời khai của người chứng kiến là Phạm Duy H và ông Tăng Đình C. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập hồi 18 giờ 40 phút ngày 23/12/2019 ; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường Quang Trung thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập hồi 19 giờ 20 phút ngày 23/12/2019; Bản kết luận giám định số 493/KLGD – PC09, ngày 24/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:[...] c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có 1 tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo đã tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng hai, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 , khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, nhưng do bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy Vũ Văn T khai mua của người phụ nữ khoảng 40 tuổi không quen biết không biết tên địa chỉ tại khu vực ngõ 02, đường C, tổ 50, phường Q, thành phố B nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Vũ Văn T 0,1466 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi sáu gam) ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,1202 gam (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai gam) trong phong bì niêm phong số 493/KLGD – PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại di động Matsstell màu đen - trắng và số tiền 10.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự ; Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Vũ Văn T 1 năm (một năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23 tháng 12 năm 2019).
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo 0,1466 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi sáu gam) ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,1202 gam (không phẩy một nghìn hai trăm linh hai gam) trong phong bì niêm phong số 493/KLGD – PC09.
2.2. Trả lại bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại di động Matsstell màu đen - trắng và số tiền 10.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 19 tháng 02 năm 2020 và Biên lai thu tiền số 0001554 ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình).
3. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/3/2020.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |