vanban.org

Bản án 28/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 13/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Hải Y 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 03/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ NGỌC HẢI Y PHẠM TỘI tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VT
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HS-ST
Ngày 13 tháng 8 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT- TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thái Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Em

Bà Nguyễn Thị Tua

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Ngọc Hải Y, sinh năm 1991. Nơi sinh: VT, Hậu Giang; Nơi thường trú: Ấp 9, xã VT, huyện VT, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hoàng H và bà Trần Thị Ngọc M; có 01 người con. Tiền án: không; Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/5/2020 và bị tạm giữ, đến ngày 06/5/2020 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Sử Hùng T (vắng mặt)

2. Nguyễn Thị Thu T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút, ngày 03/5/2020 Công an huyện Vị Thuỷ kết hợp với Công an thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thuỷ bắt quả tang Lê Ngọc Hải Y, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) bật lửa mà đỏ; 01 (một) bật lửa trong suốt bị vỡ; 01 (một) cây kéo bằng kim loại được bọc lại bằng đoạn ống hút màu tím dài 9,5cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số IMEL: 357698107376535 (đã qua sử dụng); 01 (một) túi da màu nâu, trên hai mặt có nhiều chữ G; 01 (một) bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các tinh thể nghi là ma tuý đá Methamphetamine; 01 (một) ống thuỷ tinh, bên trong có chứa các tinh thể nghi là ma tuý đá Methamphetamine; 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Sting, bên trong chứa chất lỏng trong suốt đậy lại bằng nắp màu đỏ; 01 (một) ống nhựa sọc trắng đỏ gắn trên nắp chai nhựa nhãn hiệu Sting.

Tại Bản kết luận giám định số 24/KLGĐ (Đ4)-PC09 ngày 6/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hậu Giang kết luận:

- Mẫu ký hiệu M1: Mẫu tinh thể chứa trong 01 bịch nylon được niêm

phong gửi đi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,21615 gam, loại

Methamphetamine;

- Mẫu ký hiệu M2: Mẫu tinh thể chứa trong 01 ống thuỷ tinh được niêm

phong gửi đi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,12492 gam, loại

Methamphetamine.

Qua làm việc Lê Ngọc Hải Y thừa nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 03/5/2020 Lê Ngọc Hải Y đón xe ôm đi đến khu vực cầu Thuỷ Lợi, thuộc ấp 7, xã VT mua từ một người thanh niên (khoảng 30 tuổi) 01 (một) bịch ma tuý đá với số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Mua xong Lê Ngọc Hải Y cất ma tuý vào người và đón xe ôm về nhà thuộc ấp 9, xã VT, huyện Vị Thuỷ. Sau đó Lê Ngọc Hải Y đi bộ qua nhà của Sử Hùng T và rủ T ra nhà trọ nghỉ và T đồng ý. T lấy xe mô tô, biển kiểm soát: 95B1-82423 của Y đã gửi nhà của T khoảng vài ngày trước chở Y đến Phòng trọ số 6, nhà trọ 9999. Khi đến nhà trọ thì Lê Ngọc Hải Y vào phòng trọ còn T chạy ra chợ Nàng Mau mua trái cây. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bị bắt quả tang.

Đối với người thanh niên (khoảng 30 tuổi) khu vực cầu Thuỷ Lợi, thuộc ấp 7, xã VT đã bán ma tuý cho Y. Theo lời khai của Lê Ngọc Hải Y không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không xác định được đối tượng. Khi nào xác định được sẽ tiến hành xử lý sau.

Đối với Sử Hùng T là người chở Y ra nhà trọ để ngủ. Tuy nhiên, T không biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Y.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-HVT ngày 24/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Hải Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Vật chứng vụ án: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Nokia, các vật chứng còn lại không có giá trị nên tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhận thức được hành vi là sai trái. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ để sớm làm lại cuộc đời, nuôi mẹ già, con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: bị cáo Lê Ngọc Hải Y là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/5/2020, bị cáo đã đi đến địa điểm khu vực cầu Thủy Lợi thuộc Ấp 7, xã VT, huyện VT, tỉnh Hậu Giang để mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua ma túy bị cáo cất giấu vào người và đi về nhà, sau đó sang nhà và rủ Sử Hùng T tìm nhà trọ ngủ thì được T đồng ý, cả hai di chuyển đến Nhà trọ 9999 do bà Nguyễn Thị Thanh T làm chủ. Tại đây, bị cáo đã lấy ma túy ra phân chia một phần để sử dụng và một phần dự định cất lại để tiếp tục sử dụng sau đó thì bị cơ quan công an bắt quả tang và lập biên bản thu giữ số ma túy của bị cáo. Tại Kết luận giám định số 24/KLGĐ-PC09(MT) ngày 06/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang xác định: Mẫu tinh thể chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,21615 gam, loại Methamphetamine và mẫu tinh thể chứa trong 01 (một) ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,12492 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Ngọc Hải Y đã có hành vi tàng trữ 0,34107 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo khai không có rủ rê T đến nhà trọ nhằm mục đích sử dụng ma túy, không nói cho T biết là đang cất giấu ma túy, bị cáo đợi T đi mua trái cây mới sử dụng để không cho T biết. Lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai của Sử Hùng T trong quá trình điều tra. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đang trong độ tuổi lao động nhưng không phấn đấu để tìm kiếm công việc ổn định, phụ giúp gia đình, nuôi con nhỏ mà lại sử dụng tiền mua ma túy về sử dụng. Việc bị cáo sử dụng ma túy không chỉ gây nguy hại cho sức khỏe của bị cáo mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành người có ích.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ nhưng không có cha chăm sóc nuôi dưỡng phải sống với bà. Do vậy, cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, giúp bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng về chăm sóc con nhỏ, sống có ích gia đình và xã hội.

Vật chứng vụ án: Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh là của bị cáo, xét thấy không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo. Các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Hải Y 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 03/5/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng các Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số IMEL: 357698107376535 (đã qua sử dụng).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được đóng gói niêm phong mẫu vật, vụ số: 24/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang; 01 (một) túi niêm phong ký hiệu NS3, tên mẫu vật: Ống thủy tinh, địa điểm thu mẫu: ấp 4, thị trấn Nàng Mau, huyện VT, ngày thu mẫu: 03/5/2020, vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy số: 24/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang; 01 (một) cái bật lửa màu đỏ; 01 (một) cái bật lửa trong suốt bị vỡ; 01 (một) cây kéo bằng kim loại được bọc lại bằng đoạn ống hút màu tím dài 9,5cm; 01 (một) chai nhựa hiệu Sting, bên trong có chứa chất lỏng trong suốt được đậy lại bằng nắp màu đỏ; 01 (một) ống nhựa sọc trắng đỏ gắn trên nắp chai nhựa nhãn hiệu Sting; 01 (một) túi da màu nâu, trên hai mặt có nhiều chữ G.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKS-HVT ngày 24/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Ngọc Hải Y phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ