- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Hữu H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bế Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HS-ST Ngày 30-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Hồng Vinh;
Bà Đàm Thiếu Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân huyện Tràng Định xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2020/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Bế Hữu H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28 tháng 10 năm 1993, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi sinh sống: Thôn N, xã T, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Văn K và bà Hoàng Thị L; có vợ là La Thị H, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 06/3/2020 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Đàm Văn H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Dương Xuân Q, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/02/2020 Công an huyện Tràng Định tiếp nhận tin báo của anh Đàm Văn H, về việc ngày 14/02/2020 anh H cho Bế Hữu H, mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX), màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12T1 – 02964 đi ra thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn với mục đích làm hồ sơ đi Công ty và hẹn chiều tối cùng ngày trả xe, nhưng Bế Hữu H không trả xe, Bế Hữu H đã tự ý đem xe mô tô của anh Đàm Văn H đi cầm cố lấy tiền, tại cửa hiệu Cầm đồ của anh Dương Xuân Q, ở thôn C, xã C, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi tiếp nhận tin báo của Đàm Văn H, cùng ngày 21/02/2020 Công an huyện Tràng Định đã tiến hành điều tra xác minh, làm rõ và tạm giữ được chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX) màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 12T1 – 02964 của anh Đàm Văn H.
Ngày 25/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nêu trên. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/HĐĐGTS ngày 03/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tràng Định kết luận; giá trị tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RXS) màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 12T1 – 02964 của ông Đàm Văn H có giá trị 5.722.200 đồng (Năm triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn hai trăm đồng). Do vậy ngày 06/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với Bế Hữu H, về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy đinh tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Kết quả điều tra đã xác định được, Bế Hữu H là đối tượng nghiện hút chất ma túy Heroine từ năm 2015, không có việc làm ổn định. Khoảng 12 giờ ngày 14/02/2020 Bế Hữu H hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX) màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 12T1 – 029.64 của Đàm Văn H được mua vào thời điểm năm 2013 với giá 21.500.000 đồng, mục đích đi ra thị trấn T để làm giấy tờ, hồ sơ đi Công ty và hẹn đến tối cùng ngày trả xe, anh H nhất trí rồi cùng Bế Hữu H đi đến nhà Đàm Văn L (anh trai của H) ở thôn P, xã T, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn lấy xe mô tô, sau khi mượn được xe thì một mình Bế Hữu H điều khiển xe mô tô đi ra thị trấn T ngồi uống nước ở ngã tư Máy Đèn tìm người quen để vay mượn tiền nhưng không được, nên Bế Hữu H nảy sinh ý định lấy xe mô tô của H đi cầm cố lấy tiền. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 14/02/2020 Bế Hữu H đã tự ý đem xe mô tô của H đi cầm cố với Dương Xuân Q, cư trú tại thôn C, xã C, huyện Tràng Định lấy 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); sau khi có tiền Bế Hữu H bỏ ra 200.000 đồng đi mua ma túy về sử dụng rồi quay lại quán bán nước uống ở ngã tư Máy Đèn chờ Hiếu, khoảng 23 giờ cùng ngày H đi xe khách từ Hà Nội về đến. Do đã đem xe của H đi cầm cố nên khi H hỏi xe máy đâu rồi thì Bế Hữu H nói dối là xe mô tô bị Cảnh sát giao thông giữ, hẹn 03 ngày sau sẽ đem xe trả lại, sau đó Hiệp đón xe ô tô chở khách đi xuống Bắc Ninh tìm việc làm, từ ngày 15/02/2020 đến ngày 21/02/2020 anh H nhiều lần gọi điện, nhắn tin qua ứng dụng Zalo yêu cầu Bế Hữu H trả xe, nhưng do số tiền cầm cố xe có được 4.500.000 đồng Bế Hữu H đã đem đi mua ma túy về sử dụng và chi tiêu cá nhân đến ngày 05/3/2020 thì hết tiền, không có khả năng chuộc lại xe mô tô trả cho anh H; cụ thể khoảng ngày 20/02/2020 Bế Hữu H đã nhắn tin điện thoại qua ứng dụng Zalo cho H biết, với nội dung “Hiện giờ không còn tiền, nên không thể lấy xe được nữa, còn H cứ báo Công an đi, Bế Hữu H sẽ chịu trách nhiệm hết”. Do vậy, ngày 21/02/2020 anh Đàm Văn H đã trình báo lên Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đề nghị giải quyết và xử lý đối với Bế Hữu H.
Cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện, Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Bế Hữu H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự .
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi của bị cáo gây ra là sai, vi phạm pháp luật. Bị hại anh Đàm Văn H trình bày do có mối quan hệ quen biết với bị cáo Bế Hữu H và ở cùng thôn với nhau nên tin tưởng Bế Hữu H đã cho H mượn xe mô tô của mình nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX) biển kiểm soát 12T1-02964 và bị cáo H đem đi cầm đồ với anh Dương Xuân Q trú tại thôn N, xã C, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn lấy 4.500.000 đồng để đi tiêu sài cá nhân, nay chiếc xe mô tô đã bị Công an thu hồi. Tại phiên tòa hôm nay anh Đàm Văn H yêu cầu được lấy lại chiếc xe mô tô và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Tại biên bản lấy lời khai anh Dương Xuân Q trình bày, khi nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX) biển kiểm soát 12T1-02964 với bị cáo Bế Hữu H thì anh Q không biết tài sản là do bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có, vì do quen biết bị cáo Bế Hữu H và Bế Hữu H đã nói dối là chiếc xe mô tô này là của Bế Hữu H, không đem theo giấy tờ nên đã tin tưởng và nhận cầm cố 4.500.000 đồng và tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Q không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền cầm đồ cho anh vì bị cáo là người nghiện ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét tuyên bố bị cáo Bế Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bế Hữu H mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Trả cho anh Đàm Văn H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE (RSX) biển kiểm soát 12T1-02964; về trách nhiệm dân sự: Công nhận quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền cầm đồ cho anh Dương Xuân Q.
Trong phần tranh luận, bị cáo có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mức án đề nghị của Viện kiểm sát là cao; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đồng thời hoàn toàn phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận bị cáo lạm dụng chiếm đoạt tài sản của người khác, với tổng trị giá thiệt hại là 5.722.200 (Năm triệu bẩy trăm hai mươi hai nghìn hai trăm) đồng. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, vừa đảm bảo tính răn đe, giáo dục, vừa mang tính chất phòng ngừa loại tội phạm này, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người phạm tội, thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã lợi dụng sự tín nhiệm của chủ sở hữu tài sản, bằng sự tin tưởng cho mượn tài sản và dẫn đến hành vi chiếm đoạt, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân đồng thời bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
Về nhân thân, bị cáo được coi là có nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: Không có; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phía bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung hình phạt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào khác. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, để từ đó bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, nhằm giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, xây dựng lối sống lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có tài sản hiện sống cùng bố, mẹ (thể hiện tại biên bản xác minh ngày 24/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ theo khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12T1-02964 xe cũ đã qua sử dụng, số khung JC 52E5310709, số máy: 5232CY513806 cho bị hại anh Đàm Văn H, hiện chiếc xe mô tô trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Xét thấy chiếc xe mô tô trên là của chủ sở hữu hợp pháp của bị hại. Do vậy, cần tuyên trả chiếc xe mô tô cho bị hại anh Đàm Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra và tại đơn đề nghị của anh Dương Xuân Q không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Dương Xuân Q chủ cửa hiệu cầm đồ đã có giấy chứng nhận kinh doanh, nhưng không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện đối với một số ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, thì hành vi nhận cầm cố tài sản của người khác không có các loại giấy tờ chứng minh chủ sở hữu tài sản, hành vi của Dương Xuân Q đã vi phạm điểm d khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Do vậy, ngày 28/4/2020 chủ Ủy ban nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 13.500.000 (mười ba triệu năm trăm nghìn) đồng đối với Dương Xuân Q. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với Dương Xuân Q trong vụ án này.
. Về án phí: Bị cáo Bế Hữu H bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan đến vụ áncó quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bế Hữu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bế Hữu H 01 (một) năm tù giam, thời hạn tính từ ngày 06/3/2020.
2. Xử lý vật chứng: Trả cho Đàm Văn H 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12T1-02964 xe cũ đã qua sử dụng, số khung JC 52E5310709, số máy: 5232CY513806.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định ngày 18/05/2020).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Bế Hữu H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bế Hữu H, bị hại Đàm Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Dương Xuân Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định; - Công an huyện Tràng Định; - Chi cục THADS huyện Tràng Định; - Bị cáo (qua nhà tạm giữ); - Bị hại (theo địa chỉ); - Người có QLNVLQ (theo địa chỉ); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Bàn Văn Tiển |