- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ tội tàng trữ trái phép chất m túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 28/2020/HS - ST Ngày: 07/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Ngô Thế Tương
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Bá Đặng và ông Ngô Văn Sang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông: Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/TLST – HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo :
Hoàng Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1980. Nơi cư trú: thôn N, xã X, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa : 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1947, con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1947. Có vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1981, bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2014 đều trú tại thôn N, xã X, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 8/12, sau đó lao động tự do tại địa phương. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2005/HSST ngày 28/01/2005 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2016/HSST ngày 05/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tháng 11/2012 bị áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội tỉnh Thái Bình đến tháng 10/2013 chấp hành xong quyết định trở về địa phương. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Thái Bình.
(Có mặt)
Người chứng kiến
Ông: Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1960
(Vắng mặt) Nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Anh: Trần Ngọc B, sinh năm 1982
(Vắng mặt) Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 09/01/2020, Hoàng Văn Đ thuê xe ôm đi từ xã X đến khu vực thôn B, xã T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.00 đồng, trên đường đi về thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Diêm Điền và Công an xã Thụy Trường phát hiện bắt quả tang, kiểm tra người Đ thu giữ trong lòng bàn tay trái Đ 02 gói ma túy, được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, mở ra bên trong cả hai gói đều có chất bột màu trắng, dạng cục, Đ khai đó là ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý và niêm phong vật chứng gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 18/KLGĐ – PC 09 ngày 10/01/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “ Mẫu số A1 gửi giám định thu giữ của Hoàng Văn Đ là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,1287 gam ”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 27/CT- VKSTT ngày 31 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Luận tội của kiểm sát viên: Vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định; tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt được công bố tại phiên tòa .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dan huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Người chứng kiến vắng mặt nhưng tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
. Như vậy đủ căn cứ để xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 09/01/2020, tại thôn B, xã T, huyện Thái Thụy, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Diêm Điền và Công an xã Thụy Trường phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1287 gam, mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy do nhà nước độc quyền quản lý, nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ để sử dụng, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi đó đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
c). Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
. Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm khánh kiệt về kinh tế, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội , bị cáo là người có nhân thân xấu, từng 02 lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản và 01 lần bị đưa đi cơ sở cai nghiện nên cần phải quyết định một hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo bản thân là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng, địa chỉ cụ thể ở khu vực thôn B nên cơ quan công an điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,1287 gam, loại Heroine, sau khi lấy mẫu giám định còn lại là 0,0991 gam, đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH :
1.Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "
2.Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ 0,0991 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định thu giữ của bị cáo. (Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan công an và Chi cục thi hành án huyện Thái Thụy ngày 31/3/2020)
4.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; NQ 326/2016/UBTVQH 14 về Án phí, Lệ phí Tòa án
Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thái Thụy - VKSND tỉnh TB - Công an huyện Thái Thụy - Chi cục THA huyện Thái Thụy - TAND tỉnh TB - Bị cáo - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Tƣơng |