vanban.org

Bản án 28/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt : Xử phạt Lò Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2020.

Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 01(một) phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, bên trong có 01 phong bì niêm phong cũ và chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt : Xử phạt Lò Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 28/2020/HS-ST
Ngày: 19 /5 /2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tòng Thị Quyên;

Ông Lò Trung Thành.

Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78 /QĐXXST-HS ngày 04 /5/2020 đối với bị cáo:

Lò Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1992, tại huyện S, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản Tông H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng Trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Th và bà Lò Thị M (đã chết); có vợ và có 2 con; tiền án; tiền sự: không có; nhân thân; bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2020 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tòng Văn Minh –Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DỤNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2020 Lò Văn T đi xe ôm từ nhà đến bản T, xã S, huyện S, mua được 06 viên ma túy tổng hợp của một người dân tộc Mông không quen biết với số tiền 240.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân, khi về đến giữa bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp về thì bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần đang mặc của T 01 gói ni lon màu xanh bên trong chứa 06 viên nén màu hồng T khai nhận là ma túy (hồng phiến). Lò Văn T cùng vật chứng bị dẫn giải đến cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp để điều tra làm rõ.

Ngày 10/02/2020 tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, xác định khối lượng vật chứng, gói vật chứng của T có khối lượng 0,55 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu T.

Tại bản kết luận giám định số 320 ngày 13/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu giám định là 0,55gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,55gam; loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKSSC ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên Tòa, sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 14 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

01(một) phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La đã được niêm phong dán kín ghi, bên trong có 01 phong bì niêm phong cũ và có chất bột màu hồng là Mẫu gửi giam định ký hiệu T không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,43 gam sử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo thuộc dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên cần miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày; bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, phạm tội lần đầu, qúa trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức còn hạn chế; do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt và miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T khai nhận ngày 07 tháng 02 năm 2020 đã mua được 06 viên ma túy tổng hợp của một người không quen biết với số tiền 240.000 đồng, khi đang tàng trữ trên người đã bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang thu giữ số vật chứng nói trên; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 50 phút ngày 07 tháng 02 năm 2020; Biên bản cân tịnh vật chứng ngày 10/02/2020, kết luận giám định số 320, ngày 13/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,55 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Trong phần tranh luận người bào chữa cho rằng bị cáo là dân tộc thiểu số, phạm tội lần đầu, qúa trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức còn hạn chế ; do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đểgiảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; xét thấy ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, cần chấp nhận một phần ; Do đó bị cáo sẽ được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Với các căn cứ nêu trên. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.

Đối với người trực tiếp bán ma túy cho bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý về hình sự, nhưng do chưa xác định được đối tượng, nên chưa có căn cứ xử lý ở vụ án này, đề nghị cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành, nên không áp dụng.

Về vật chứng: 01(một) phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, bên trong có 01 phong bì niêm phong cũ và có chất bột màu hồng là Mẫu gửi giám định ký hiệu T không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,43 gam; một phong bì thư niêm phong gián kín bên trong có 01 mảnh ni lon màu xanh là các vật chứng cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ vào, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn khoản án phí hình sự cho bị cáo.

Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự ; Tuyên bố Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ;

2. Về hình phạt : Xử phạt Lò Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2020.

3. Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

4. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 01(một) phong bì thư của phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, bên trong có 01 phong bì niêm phong cũ và chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu T không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,43 gam; một phong bì thư niêm phong gián kín, bên trong có 01 mảnh ni lon màu xanh ; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 4 năm 2020, giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

5. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; Miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/5/2020).

Cỡ chữ