vanban.org

Bản án 28/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành N (tên khác N ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành N (tên khác N ) 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Nhựt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành N (tên khác N ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HS-ST
Ngày 11 - 9 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Ông Nguyễn Hoài Phong

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Bà Ngô Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thành N (tên khác N ), sinh năm 1998 tại Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm 4, phường , thành phố C , tỉnh C ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Văn Tuyết N ; vợ: Hồ Thị Trúc P (ly thân); con: Không; tiền án: Ngày 26/7/2017 bị Tòa án nhân dân T xử phạt 04 năm tù về hành vi Cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 29/4/2020; tiền sự: Không; nhân thân: Xấu; bị tạm giữ ngày 07/6/2020 chuyển tạm giam ngày 13/6/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 07/6/2020, Tổ tuần tra Công an tỉnh Cà Mau kết hợp với lực lượng Công an thành phố Cà Mau đi tuần tra trên tuyến đường liên huyện. Khi đi đến ấp Trung Cang, xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau phát hiện xe ô tô loại xe 04 chỗ, biển kiểm soát 69A – 044.16 đang lưu thông trên tuyến đường về thị trấn Đầm Dơi, lực lượng yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện Phạm Bảo Q đang tàng trữ 03 bao nhựa có dòng chữ “Café hương vị đậm đà”, bên trong có 03 túi nilon đều có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành kiểm tra trên người của Lê Thành N , Trần Quốc T , Nguyễn Thị Bảo T thì phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Lê Thành N đang mặc trên người đang cất giấu 01 gói nilong màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan chức năng đã tiến hành niêm phong đúng quy định (Ký hiệu M20/2020). Quá trình làm việc Lê Thành N thừa nhận các tinh thể dạng rắn, trong suốt bên trong 01 gói nilong thu giữ trên người của N là ma túy, đồng thời N cũng khai nhận nguồn gốc số ma túy là do N lấy của Q trong lúc sử dụng ma túy cùng Trần Quốc T , Phạm Bảo Q , Nguyễn Thị Bảo T và Nguyễn Thị Ngọc M , tại nhà của M . Lực lượng chức năng bắt quả tang, tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ tang vật nêu trên.

Tại kết luận giám định số 134/GĐH-PC09 ngày 09/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nilon màu trắng được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M20/2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1725gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình bị rạn nứt, số sim 0817809363.

- 01 phong bì đã niêm phong, bên trong là 0,1093 gam tinh thể cơ quan giám định hoàn lại (qua giám định xác định tinh thể này là Methamphetamine).

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Lê Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Diều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thành N mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình bị rạn nứt, số sim 0817809363.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong, bên trong là 0,1093 gam tinh thể cơ quan giám định hoàn lại (qua giám định đã xác định tinh thể này là Methamphetamine).

- Về án phí: Bị cáo Lê Thành N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo N nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo cải tạo sớm về đoàn tụ gia đình và sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thành N thừa nhận: Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 07/6/2020, bị cáo đi đến ấp Trung Cang, xã Tân Trung, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bị lực lượng Công an thành phố Cà Mau bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1725 gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ.

Do đó, hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,1725 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó, Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Lê Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo N gây ra là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là hiểm họa xã hội, làm sói mòn đạo đức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức và sức khỏe con người, đe dọa nghiệm trọng đến an toàn trật tự công cộng, cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm hình sự khác là vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cao có 01 tiền án thể hiện, vào ngày 26/7/2017 bị Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xử phạt 04 năm tù về hành vi Cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 29/4/2020, nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với Phạm Bảo Q và Nguyễn Thị Ngọc M , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau đã tiến hành thụ lý, điều tra xử lý trong vụ án khác theo thẩm quyền.

Đối với Trần Quốc T và Nguyễn Thị Bảo T quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh T và T1 là đồng phạm đối với bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi không xử lý là có căn cứ.

Về hình phát bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sư “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi và bị cáo không có nghề nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình bị rạn nứt, số sim 0817809363, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tôi nên cần trả lại cho bị cáo N .

Đối với mẫu tinh thể Methamphetamine có khối lượng 0,1093 gam tinh thể cơ quan giám định hoàn lại. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành N (tên khác N ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành N (tên khác N ) 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2020.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tích thu tiêu hủy mẫu tinh thể Methamphetamine có khối lượng 0,1093 gam tinh thể cơ quan giám định hoàn lại

Trả lại 01 thoại di động hiệu Realme, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình bị rạn nứt, số sim 0817809363 cho bị cáo Lê Thành N . Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 8 năm 2020.

Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thành N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ