- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tôi vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HS-ST Ngày 30/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Tiến Lả
Bà Lâm Thị Vèn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/TL-HSST ngày 30 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 100, đường L, phường T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1956 (đ chết) con bà Trần Thị H , sinh năm 1953; có vợ Hoàng Thị V, sinh năm 1985; có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại. Có mặt.
- Người bị hại: Anh Lương Mạnh T, sinh năm 1990 (Đ chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Lương Văn M, sinh năm 1952 (Bố đẻ bị hại Lương Mạnh T). Địa chỉ: Khối phố 6A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Lương Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khối phố 6B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Chị Hoàng Thị V, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 100, đường L, phường T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt. 2. Ông Ngô Tiến Đ, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số 42, đường Lương Văn Tr, phường Hoàng Văn T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: 1. Ông Nông Văn P, sinh năm 1971. Vắng mặt. 2. Anh Hoàng Minh D, sinh năm 1994. Vắng mặt. 3. Ông Lương Xuân H, sinh năm 1969. Vắng mặt. 4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976. Vắng mặt. 5. Anh Lục Văn C, sinh năm 1989. có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11h30, ngày 27/7/2020, Bị cáo Nguyễn Văn H, điều khiển xe ô tô tải thùng kín, biển kiểm soát 12C- 015.28, nh n hiệu HYUNDAI, màu sơn xanh chở hàng tạp hóa của công ty trách nhiệm hữu hạn Tiến Đạt, do ông Ngô Tiến Đ sinh năm 1968, địa chỉ 42 Lương Văn Tri, phường Hoàng Văn T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giao cho các đại lý ở các huyện Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xe ô tô thuộc sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn Tiến Đạt. Đi cùng xe có ông Nông Văn P, sinh năm 1971, trú tại thôn Khòn Pịt, x Hoàng Đồng, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là nhân viên bán hàng của công ty ngồi bên trái ghế phụ và ông Hoàng Minh D, sinh năm 1994, trú tại xóm Lục Khoang, thôn Hoàng Tâm, x Hoàng Đồng, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là nhân viên bốc vác ngồi giữa bị cáo Nguyễn Văn H và Nông Văn P đến Km 59 + 100, Quốc lộ 1B địa phận thôn Phai Lay, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; đây là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, có biển báo hiệu đường bộ số: 207C (biển báo hiệu giao thông nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên), bị cáo điều khiển xe đi số 04 (Bốn) tốc độ khoảng 46 km/h qua quan sát phía trước cùng chiều đi có chiếc xe ô tô tải ben, nh n hiệu THACO FORLAND, màu xanh, biển kiểm soát 12C - 046.62 do anh Lục Văn C sinh năm 1989 trú tại thôn Nà Cốc, x Hoàng Văn Thụ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang đỗ ở bên phải đường, cùng chiều xe Hoàn điều khiển, chiều hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên. Lúc này trời đang mưa to, tầm nhìn bị hạn chế, bị cáo bật đèn tín hiệu bên trái để vượt, khi vượt có lấn sang làn đường bên trái dành cho các phương tiện lưu thông ngược chiều thì phát hiện bị hại Lương Mạnh T sinh năm 1990, trú tại khối phố 6A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn điều khiển xe mô tô đi ngược chiều sát vạch sơn kẻ đường phân chia làn đường ngược chiều nhau, do khoảng cách gần không kịp xử lý, xe mô tô do Thiết điều khiển đâm thẳng vào cụm đèn tín hiệu bên trái đầu xe ô tô. Bị cáo đ phanh xe dừng xe lại, xuống xe xem thấy Lương Mạnh T chảy máu ở đầu và tai nằm bất tỉnh trên xe mô tô. Thấy vậy bị cáo bảo Phụng và Diệp ở lại hiện trường còn bị cáo vẫy xe ô tô đang lưu trên đường đưa Thiết đến Trung tâm y tế huyện B cấp cứu, nhưng do bị thương nặng, Thiết đ tử vong trên đường đi cấp cứu. Sau đó, bị cáo tự đến Công an huyện B xin tự thú và khai báo toàn bộ nội dung vụ tai nạn giao thông trên.
Sau khi tiếp nhận tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đ phối hợp với các thành phần liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện theo trình tự quy định của pháp luật.
* Kết quả khám nghiệm tư thi: Tại bản kết luận pháp y về tử thi 82/2020/TT, ngày 10/8/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn đ có, kết luận nguyên nhân Lương Mạnh T chết: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ phức tạp do tương tác với vật tày, lực quán tính lớn. Xét nghiệm tìm ethanol trong máu: Mẫu máu của Lương Mạnh T gửi giám định có ethanol, nồng độ 392,2mg/100ml máu (Ba trăm chín mươi hai phẩy ba milligram ethanol trong một trăm mililit máu).
* Kết quả khám phương tiện giao thông: Tại kết luận giám định tình trạng kỹ thuật xe ô tô tải, biển kiểm soát 12C - 015.28 và xe mô tô biển kiểm soát 12B1- 073.95 trước, trong và sau tai nạn của Công ty cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn ngày 31/8/2020 kết luận: Xe ôtô biển số 12C - 015.28 và xe mô tô biển kiểm soát 12B1- 073.95 khi bị tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
* Kết luận định giá tài sản: Tại bản kết luận giám định số 17/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Xe mô tô nh n hiệu HONDA WAVERSX màu sơn đỏ, đen biển kiểm soát 12B1 – 073.95 có giá trị là 11.825.000 đồng (Mười một triệu tám trăm hai mươi năm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa bị cáo khai nhận trong quá trình điều khiển xe ô tô tải thùng kín Biển kiểm soát 12C- 015.28 để vượt xe ô tô khác đang dừng đỗ bên phải đường theo chiều đi, bị cáo đ lái xe không chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện để vượt xe an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô do bị hại Lương Mạnh T đi ngược chiều gây ra tai nạn là nguyên nhân làm bị hại Lương Mạnh T tử vong.
Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS-BG ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo không chối tội mà khai và nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đ nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và quyết định đ truy tố đối với bị cáo. Bị cáo có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, khi điều khiển ô tô tham gia giao thông đường bộ không chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện để vượt xe an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô đi ngược chiều hậu quả 01 người chết. Hành vi của bị cáo đ vi phạm vào khoản 2, điểm a, đ khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 với lỗi vô ý do quá tự tin gây hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; các điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 36 tháng. Về tang vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số: 200048200406 mang tên Nguyễn Văn H. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự : Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên. Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận, đồng ý với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia. Người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời nói sau cùng, bị cáo đ nhận ra sai phạm, rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Ngô Tiến Đ đ có đơn xin xét xử vắng mặt; Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lương Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt và có người đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa; những người làm chứng Lương Xuân H, Nông Văn P, Hoàng Minh D, Nguyễn Văn T vắng mặt không lý do, nhưng trước đó họ đ có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người vắng mặt theo quy định tại khoản 1, Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, [2] Về quá trình điều tra, truy tố của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đ thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường sơ đồ bản ảnh hiện trường; biên bản bản ảnh khám nghiệm phương tiện; biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận khám nghiệm tử thị; bản giám định phương tiện, bằng các tài liệu chứng cứ khác đ thu giữ trong quá trình điều tra có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/7/2020, bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô tải thùng kín, biển kiểm soát 12C- 015.28, nh n hiệu HYUNDAI . khi đến Km 59 + 100, Quốc lộ 1B địa phận thôn Phai Lay, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo điều khiển xe vượt xe ô tô tải ben, biển kiểm soát 12C - 046.62 đang dừng đỗ ở bên phải đường, cùng chiều xe bị cáo điều khiển, chiều hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên. Lúc này trời đang mưa to, tầm nhìn hạn chế, do bị cáo không chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện để vượt xe an toàn nên đ xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 12B1 – 073.95 đi ngược chiều do bị hại Lương Mạnh T sinh năm 1990, trú tại khối phố 6A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn điều khiển. Hậu quả bị hại Lương Mạnh T tử vong trên đường đi cấp cứu. Như vậy, trong điều kiện hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật thì hành vi bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không đảm bảo các điều kiện để vượt xe an toàn đ vi phạm vào điểm khoản 2, điểm a, đ khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 với lỗi vô ý do quá tự tin gây hậu quả nghiêm trọng dẫn đến làm người bị hại Lương Mạnh T tử vong. Theo quy định bộ luật hình sự năm 2015, hành vi của bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 điều 260. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện B là có căn cứ.
Đánh giá hành vi, hậu quả, mức độ phạm tội của bị cáo, thấy bị cáo là người đ thành niên, đ được học qua các lớp theo quy định và được cấp giấy phép lái xe ô tô do đó bị cáo hoàn toàn nhận thức được và hiểu rõ được các quy định về luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo đ điều khiển ô tô lưu thông trên đường do quá tự tin làm chủ tình hình nên đ gây tai nạn và hậu quả làm chết một người. Hành vi của bị cáo cần bị xử lý hình sự nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Cần tuyên bố bị cáo phạm tội với khung, khoản và Điều luật như Viện kiểm sát nhân dân huyện B đ đề nghị.
Đối với bị hại Lương Mạnh T điều khiển xe mô tô trong máu có nồng độ cồn 392,2mg/100ml máu (Ba trăm chín mươi hai phẩy ba milligram ethanol trong một trăm mililit máu) vượt quá nhiều lần cho phép, quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Đây cũng là một trong các nguyên nhân xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, bị hại Lương Mạnh T đ tử vong nên cơ quan điều tra không xử lý vi phạm là có căn cứ.
Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. [7] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có. Bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. [8] Từ những nhận định đánh giá trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo, có sự giám sát giáo dục của Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là tương xứng, phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật Việt Nam. [9] Về hình phạt bổ sung, xét thấy, bị cáo hành nghề Lái xe nhưng vì lỗi quá tự tin khi tham gia giao thông dẫn đến tai nạn do đó cần cấm bị cáo hành nghề lái xe một thời gian nhất định. [10] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo đ bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, tại phiên tòa Đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác, người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Ngô Tiến Đ không yêu cầu bồi thường đối với bị cáo do làm hỏng xe ô tô nên Hội đồng xét xử không xem xét đến phần trách nhiệm dân sự trong vụ án. [11] Về vật chứng: 01 (một) xe tải thùng kín nh n hiệu HUYNDAI, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 12C-015.28 và các giấy tờ liên quan đến chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Ngô Tiến Đ; 01 (một) xe mô tô nh n hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn đỏ, đen; biển kiểm soát: 12B1 – 073.95 và những giấy tờ liên quan thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại Lương Mạnh T (Đ chết) nên việc cơ quan công an trả lại các vật chứng này cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ngô Tiến Đ, Chị Lương Thị T - Đại diện theo uy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại là đúng quy định của pháp luật, không ảnh hướng đến việc giải quyết vụ án. Đối với giấy phép 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số: 200048200406 mang tên Nguyễn Văn H do không phải là tang vật phạm tội của vụ án nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ. [12] Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [13] Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được xem xét chấp nhận. [14] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của bộ luật Tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260, Điều 50 và điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3,khoản 1 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 ( Hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số: 200048200406 mang tên Nguyễn Văn H. Hiện trạng vật chứng nêu trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H Bình Gia, T Lạng Sơn; - Công an H Bình Gia, T Lạng Sơn; - CCTHA DS H Bình Gia, T Lạng Sơn; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS + Tổ HCTP. ơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Khi |