vanban.org

Bản án 28/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 20/02/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thùy L được ly hôn anh Phan Hoài N.

Về con chung: Giao con chung là Phan Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 06/01/2019 cho chị Phạm Thùy L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Linh + Nam"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thùy L được ly hôn anh Phan Hoài N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20-02-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đăng Khoa

Ông Nguyễn Thành Biên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thùy L; nơi cư trú: Số 5/57 đường KS, phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng;

- Bị đơn: Anh Phan Hoài N; nơi cư trú: Số 15 FC, 13051 BL, Cộng hòa liên bang Đức.

Các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thùy L trình bày:

Chị kết hôn với anh Phan Hoài N trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng từ ngày 04 tháng 3 năm 2014. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu và không quan tâm đến nhau. Chị và anh N đã sống ly thân với nhau được gần 1 năm nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho chị được ly hôn với anh N càng sớm càng tốt để chị nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh N có một con chung: Phan Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 06/01/2019. Hiện con chung đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị xin tự giải quyết về tài sản chung với anh N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin ly hôn, đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt của anh Phan Hoài N (toàn bộ đã được hợp pháp hóa lãnh sự) trình bày:

Anh thống nhất với chị Phạm Thùy L về quá trình kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, vợ chồng không thể đoàn tụ đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn với nhau.

Về con chung: Anh N thống nhất với chị L về việc vợ chồng một con chung, anh N đồng ý để chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị L.

Về tài sản chung: Anh Phan Hoài N thống nhất với chị L tự giải quyết về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt anh chị.

Tại phiên tòa, chị L và anh N đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có sự thay đổi nội dung tại bản tự khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn. Chị Phạm Thùy L hiện đang sinh sống ở thành phố Hải Phòng, anh Phan Hoài N hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài. Mặt khác, chị L và anh N đều đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án ly hôn của anh chị. Như vậy, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, chị Phạm Thùy L kết hôn với anh Phan Hoài N trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng từ ngày 04 tháng 3 năm 2014 theo quy định tại Điều 9; Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc chỉ được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu và không quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Hiện nay, anh N vẫn sinh sống ở Đức, còn chị L sinh sống ở Việt N. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau được một khoảng thời gian nhất định. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L và anh N đã trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhâ ̣n đề nghị ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N có một con chung là Phan Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 06/01/2019. Hiện nay sức khỏe con chung bình thường. Khi ly hôn, chị L và anh N thỏa thuận: Chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị L và anh N xin tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác xét thấy, con chung còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và việc thỏa thuận nuôi con chung của chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận: Giao con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thùy L là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thùy L được ly hôn anh Phan Hoài N.

2. Về con chung: Giao con chung là Phan Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 06/01/2019 cho chị Phạm Thùy L nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thùy L và anh Phan Hoài N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thùy L và anh anh Phan Hoài N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thùy L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân

́ sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là

300.000đ (ba trăm nghin đồng ) theo Biên lai số

̀ AA/2010/3921 ngày 06 tháng 02 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thùy L đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thùy L (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Phan Hoài N (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ