vanban.org

Bản án 28/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hứa Bách T ly hôn với bà Huỳnh Thị Thu H.

Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Hứa Hạ N - Sinh ngày 23/4/2014 và Hứa Hạ M - Sinh ngày 21/4/2016 cho ông Hứa Bách T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà Huỳnh Thị Thu H không cấp dưỡng nuôi con. Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hứa Bách T ly hôn với Huỳnh Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hứa Bách T ly hôn với bà Huỳnh Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06-7-2020
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thúy Nguyệt

2. Ông Trần Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 621/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 621/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 36/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hứa Bách T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số X, đường Y, phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Số X, đường Y, phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn - ông Hứa Bách T trình bày:

Ông và bà Huỳnh Thị Thu H kết hôn vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số X, đường Y, phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng là nhà cha mẹ ông T. Ông bà chung sống đến khoảng tháng 9/2019 thì bà H tự ý bỏ nhà đi, thỉnh thoảng mới về thăm con mà không thông báo với ông T cũng như không cho ông T biết lý do. Ông T đã nhiều lần thuyết phục bà H quay về chung sống nhưng bà H không đồng ý nên từ đó đến nay ông bà không còn sống chung với nhau mà phần ai nấy sống. Nay ông T xác định hôn nhân thực tế không tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông Hứa Bách T xác định ông và bà Huỳnh Thị Thu H có hai con chung là Hứa Hạ N - Sinh ngày 23/4/2014 và Hứa Hạ M - Sinh ngày 21/4/2016. Từ ngày bà H bỏ nhà đi sống nơi khác, các con chung vẫn sinh sống cùng với ông tại số X, đường Y, phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng. Ly hôn, ông T có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hứa Bách T xác định ông và bà Huỳnh Thị Thu H không có tài sản chung, không có nợ chung.

* Bị đơn là bà Huỳnh Thị Thu H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; giao hai con chung là Hứa Hạ N và Hứa Hạ M cho ông Hứa Bách T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Huỳnh Thị Thu H không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung do nguyên đơn xác định không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Hứa Bách T khởi kiện về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi dưỡng con chung” đối với bị đơn là bà Huỳnh Thị Thu H có địa chỉ cư trú tại số X, đường Y, phường Z, quận K, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H nhưng bà H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hứa Bách T và bà Huỳnh Thị Thu H đã tuân thủ đầy đủ các quy định về kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay ông T xác định hôn nhân thực tế không còn tồn tại, mong muốn ổn định cuộc sống nên yêu cầu ly hôn với bà H.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện từ khoảng tháng 9/2019 bà H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, ông T và bà H không còn sống chung với nhau. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn của ông Hứa Bách T là chính đáng và có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Hứa Bách T xác định ông và bà Huỳnh Thị Thu H có hai con chung là Hứa Hạ N - Sinh ngày 23/4/2014 và Hứa Hạ M - Sinh ngày 21/4/2016. Ly hôn, ông T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của ông Hứa Bách T thấy rằng: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào điều kiện của mỗi bên cũng như xem xét tới quyền lợi mọi mặt của con chung. Ông Hứa Bách T hiện đang có chỗ ở ổn định, có thu nhập, cả hai con chung đang được ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, hiện bà H không rõ đi đâu, làm gì. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các cháu, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cả hai con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông Hứa Bách T không yêu cầu bà Huỳnh Thị Thu H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông Hứa Bách T xác định ông và bà Huỳnh Thị Thu H không có tài sản chung, không có nợ chung; bà Huỳnh Thị Thu H vắng mặt và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc xem xét cho ông T được ly hôn với bà H, về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung phù hợp như nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hứa Bách T ly hôn với bà Huỳnh Thị Thu H.

2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Hứa Hạ N - Sinh ngày 23/4/2014 và Hứa Hạ M - Sinh ngày 21/4/2016 cho ông Hứa Bách T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà Huỳnh Thị Thu H không cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông Hứa Bách T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001637 ngày 18/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ông T đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Hứa Bách T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Huỳnh Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ