- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THẢO ANH"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Giang Văn TH
Bà Nguyễn Minh Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 10/7/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị TH; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 60 HL, tổ dân phố số 7, phường ĐH, quận HA, Hải Phòng; nơi ở: Số 8/21 đường MTT, tổ dân phố số 6, phường ĐH, quận HA, Hải Phòng; có mặt;
Bị đơn: Anh Hồ TA; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 60 HL, tổ dân phố số 7, phường ĐH, quận HA, Hải Phòng; nơi ở: Số 8/21 đường MTT, tổ dân phố số 6, phường ĐH, quận HA, Hải Phòng; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 5 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị TH trình bày:
Chị và anh Hồ TA kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2001 và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đằng Hải, huyện An Hải (nay là phường Đằng Hải, quận Hải An), Hải Phòng vào ngày 30/7/2001.
Qúa trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống cũng như suy nghĩ, tính cách của cả hai không phù hợp. Bên cạnh đó, do điều kiện thời gian công việc của chị TH không ổn định, phải đi sớm, về muộn nên anh TA thường xuyên ghen tuông, nghi ngờ chị không chung thủy. Do không có sự tin tưởng nhau trong tình cảm nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai thường xảy ra cãi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vì suy nghĩ cho con nên cả hai cố gắng tiếp tục chung sống tuy nhiên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, không có khả năng hàn gắn. Đến đầu năm 2020, vợ chồng xảy ra xô xát, khiến chị TH bị thương tại vùng trán. Tuy ở cùng nhà nhưng anh chị đã sống ly thân được một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt của đời sống. Chị TH nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục duy trì do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn và bản thân chị không còn tình cảm nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Hồ TA để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung Hồ Thị VA, sinh ngày 27/4/2002. Con chung hiện đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị TH không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị TH, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh TA để làm rõ về mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống cũng như ý kiến của cá nhân anh đối với các vấn đề hôn nhân, con chung và tài sản chung nhưng anh đều vắng mặt. Do đó không có quan điểm của bị đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Yêu cầu về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn của chị Trần Thị TH là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Hồ TA hiện đang cư trú tại địa chỉ: Số 8/21 đường MTT, tổ dân phố số 6, phường ĐH, quận HA, Hải Phòng; do đó, Tòa án nhân dân quận Hải An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn là anh Hồ TA mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy sự vắng mặt của anh TA tại phiên tòa không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn trong vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị TH và anh Hồ TA kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đằng Hải, huyện An Hải (nay là phường Đằng Hải, quận Hải An), Hải Phòng vào năm 2001. Như vậy, việc kết hôn giữa chị TH và anh TA tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ xác minh mâu thuẫn cũng như tình trạng hôn nhân giữa anh chị thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và kéo dài được một thời gian. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về nhiều mặt trong cuộc sống, vợ chồng không có sự tin tưởng nhau về tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi nhau dẫn đến xô xát. Gia đình và bản thân anh chị đã cố gắng nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả; hiện nay anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh TA để làm rõ nguyên nhân mâu thuẫn cũng như tiến hành hòa giải, tuy nhiên anh đều vắng mặt không có lý do. Điều đó cũng thể hiện anh TA không còn thực sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của chị TH, không mong muốn vợ chồng có cơ hội hòa giải về đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị TH và anh TA đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn do đó theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của chị TH là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung: Con chung Hồ Thị VA, sinh ngày 27/4/2002 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.
Về án phí: Chị TH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị TH được ly hôn với anh Hồ TA.
- Về con chung: Không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Về tài sản chung: Không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Về án phí:
Chị Trần Thị TH phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị TH đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu số 0005466 ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An.
- Về quyền kháng cáo:
Chị TH có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh TA có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND quận Hải An; - Chi cục THA DS quận Hải An; - UBND phường Đằng Hải, quận Hải An, HP; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Cường |