vanban.org

Bản án 28/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa: Chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh.

Về án phí: Chị Đoàn Thị Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Ng đã nộp tại biên lai thu số 0001224 ngày 20-02-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy (chị Ng đã nộp đủ tiền án phí dân sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Ng và Lưu Trọng Ngh"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa: Chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THUỶ
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2020 V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ông Ngọc Lễ Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Giao

2. Ông Trần Hà Bắc

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST

- DS ngày 20 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Ng; sinh năm 1978;

Bị đơn Anh Lưu Trọng Ngh; sinh năm 1962;

Đều trú tại: Xóm 4, xã Giao H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Chị Ng và anh Ngh đều xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 08/01/2020, bản tự khai ngày 29/4/2020 chị Đoàn Thị Ng là nguyên đơn trong vụ án trình bày: Chị và anh Lưu Trọng Ngh tự nguyện tìm hiểu, được UBND xã Giao H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 6 năm 2011. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do anh Ngh chơi bời và hay đánh đập chị. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lưu Trọng Ngh.

Về con: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ và ruộng nhận khoán hợp tác xã, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lưu Trọng Ngh trình bày: Anh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, nhưng do bận công việc anh không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn được. Nay chị Ng có đơn xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí, anh xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Xét thấy nội dung chị Đoàn Thị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân đối với anh Lưu Trọng Ngh; Địa chỉ nơi cư trú: Xóm 4, xã Giao H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Căn cứ vào Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Ng và anh Ngh đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh tự nguyện tìm hiểu và được UBND xã Giao H, huyện Giao Thủy cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 6 năm 2011 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh Ngh cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho anh và chị Ng.

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chấp nhận nguyện vọng của chị Ng là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con: Vợ chồng không có con chung.

. Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, các mối quan hệ khác về tài sản và ruộng khoán của hợp tác xã: chị Ngoan, anh Nghĩa không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị Ng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử ly hôn giữa: Chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh.

2. Về án phí: Chị Đoàn Thị Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Ng đã nộp tại biên lai thu số 0001224 ngày 20-02-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy (chị Ng đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị Ng và anh Lưu Trọng Ngh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ