- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Minh T. Anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Đỗ Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2020/HNGĐ-ST Ngày 17/9/2020 Về việc: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Sỹ Phác và ông Nguyễn Duy Chấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kim Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
*/ NgU đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện M, tỉnh N – Vắng mặt có lý do.
*/ Bị đơn: chị Đỗ Thị V, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện M, tỉnh N - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 17/3/2020, lời khai trong quá trình tố tụng, ngU đơn anh Nguyễn Minh T trình bày: Vào năm 2012 anh T, chị V đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã S, huyện N, tỉnh N. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn thì anh, chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. NgU nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, cách sống, hay cãi nhau vì những việc nhỏ nhặt trong gia đình, mặc dù đã được hai bên gia đình khU can, hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn không giải quyết được. Do đó, anh, chị đã ly thân với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vậy nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị V.
Về con chung: anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Phương Nhã U, sinh ngày 07/9/2018 và cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 05/12/2013, hiện nay cháu U đang sống cùng chị V, cháu H đang sống cùng anh T. Khi ly hôn thì anh T xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 05/12/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành và giao cháu Nguyễn Phương Nhã U, sinh ngày 07/9/2018 cho chị V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi trưởng thành và không ai phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung không có.
- Kết quả thu thập chứng cứ:
Tại biên bản xác minh ngày 01/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil: Về ngU nhân mâu thuẫn giữa anh T, chị V thì chính quyền địa phương không biết vì khi xảy ra mâu thuẫn thì anh, chị không thông báo với chính quyền địa phương để hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người T hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Minh T. Anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Đỗ Thị V.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 05/12/2013 cho anh Nguyễn Minh T trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Phương Nhã U, sinh ngày 07/9/2018 cho chị Đỗ Thị V trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi trưởng thành và hai bên không phải cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ: Không có.
- Về án phí: Anh Nguyễn Minh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn chị Đỗ Thị V có địa chỉ tại thôn L, xã G, huyện M, tỉnh N. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý là đúng quy định tại Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Đỗ Thị V, trong quá trình giải quyết vụ án chị Đỗ Thị V vắng mặt nên Tòa án đã T hành mở phiên họp về kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng không T hành hòa giải được; Ngày 07/8/2020 Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã thông báo cho chị Đỗ Thị V biết toàn bộ nội dung kết quả mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã hai lần được Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil triệu tập tham gia phiên tòa nhưng chị Đỗ Thị V vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của chị Đỗ Thị V đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị Đỗ Thị V phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil T hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là chị Đỗ Thị V là phù hợp.
Xét yêu cầu của ngU đơn anh Nguyễn Minh T:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Minh T và chị Đỗ Thị V có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện N, tỉnh N theo giấy chứng nhận kết hôn số 29, ngày 05/11/2012. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay nên không còn khả năng đoàn tụ. Trong quá trình lấy lời khai tại Tòa án, anh T thừa nhận anh không còn tình cảm với chị V, không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống vì hôn nhân vợ chồng không đạt được mục đích.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục. Anh, chị đã không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, hôn nhân của anh, chị thật sự không đạt được mục đích. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của anh T và giải quyết cho anh T được ly hôn với chị V.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 05/12/2013 cho anh Nguyễn Minh T trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Phương Nhã U, sinh ngày 07/9/2018 cho chị Đỗ Thị V trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Minh T và chị Đỗ Thị V không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: anh Nguyễn Minh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
TU xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Minh T. Anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Đỗ Thị V.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 05/12/2013 cho anh Nguyễn Minh T trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Huy đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Phương Nhã U, sinh ngày 07/9/2018 cho chị Đỗ Thị V trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Minh T và chị Đỗ Thị V không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002056 ngày 25/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh N.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - UBND xã R; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ K Nguyễn Thế Thắng |