vanban.org

Bản án 28/2020 — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện các nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ đã chết) với ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L.

Buộc ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L buồi thường cho các nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ đã chết) số tiền là: 28.310.500đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện các nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ đã chết) với ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ TÂN AN

NAM

TỈNH LONG AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 29/2020/DSST Ngày: 25/8/2020 V/v: Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến

- Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn văn Sở

2. Ông Phạm Văn Hải

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Đặng Thị Cẩm Nhung, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Tuyền, kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 25/8/2020, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 255/2019/TLST - DS ngày 08/08/2020 về vụ “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ (đã chết):

1/ Ông Lâm Hồng N, sinh năm 1938

Địa chỉ: số 925/70/2, khu phố Nhơn Hậu 1, phường Tân Khánh, thành phố

Tân An, Long An.

2/ Bà Lâm Thị Xuân D, sinh năm 1957

Địa chỉ: số 180, ấp Hòa Ngãi, xã An Vĩnh Ngãi, thành phố Tân An, Long

An.

3/ Ông Lâm Xuân H, sinh năm 1959

4/ Bà Lâm Thị Yến O, sinh năm 1964

Cùng địa chỉ: số 925/70/2, khu phố Nhơn Hậu 1, phường Tân Khánh,

thành phố Tân An, Long An.

5/ Bà Lâm Thị Ngọc M, sinh năm 1968

Địa chỉ: số 220/15, Phạm Văn Ngô, phường Tân Khánh, thành phố Tân

An, Long An.

6/ Lâm Thị Yến P, sinh năm 1973

Địa chỉ: số 227/21A, đường Liên tỉnh 5, phường 5, Quận 5, thành phố Hồ

Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Ông Lâm Hồng N, Lâm Thị Xuân Dung, Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P là ông Đỗ Minh Tấn, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu phố Nhơn Hậu 1, phường Tân Khánh, thành phố Tân An, Long An (theo các văn bản ủy quyền ngày 07/11/2019, ngày 06/01/2010 và ngày 18/5/2020).

Bị đơn: Ông Lương Trung T, sinh năm 1942, bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1943.

- Cùng địa chỉ: số 222, Phạm Văn Ngô, phường Tân Khánh, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Các đương sự có mặt tại phiên Tòa;

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, các nguyên đơn là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Lương Ngọc Nữ do ông Đỗ Minh Tấn đại diện theo ủy quyền trình bày:

Do có sự đồng ý của ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L, ngày 04/01/2019 bà Nữ tiến hành làm đường nước ngần có hố ga qua phần đất do ông Trực và bà Linh đứng tên, ông Trực bà Linh đồng ý mở cửa rào để cube và thợ hồ vao thi công đường nước, trong lúc làm ông Trực có đem ống nước ra gắn vào đường nước để sử dụng chung. Khi thi công gần xong chỉ còn 1 hố ga thì ông Trực bà Linh đổi ý kêu dừng lại để ký kết hợp đồng, giao 2 hố ga và đường ống cho ông Trựcc bà Linh quản lý làm chủ và hoàn trả lại chi phí cho bà Nữ. sau đó ông Trực bà Linh lại đổi ý yêu cầu tháo dỡ đường ống nước ngầm và lấp hố ga lại không cho bà Nữ xử dụng.

Nay bà Nữ yêu cầu ông Trực bà Linh trả lại tiền chi phí làm đường nước với số tiền là 56.621.000đ.

Bị đơn ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L thống nhất trình bày.

Vào năm 2018 bà Nữ có nói với ông Trực bà Linh xin làm đường nước sản xuất nông nghiệp. Do bà Nữ là chị ruột của ông Trực nên hai bên không có làm hợp đồng về quy cách của đường nước. Ngay 04/01/2019 bà Nữ cho con Rể là ông Tấn làm đường nước nhưng không theo ý kiến của ông bà, ông bà yêu cầu dừng thi công để ký hợp đồng, nhưng bà Nữ không đồng ý ký hợp đồng nên ông Trực bà Linh không cho thi công tiếp và lấp lại hố ga không cho bà Nữ sử dụng. Việc bà Nữ xây dựng đường nước nhưng không ký hợp đồng theo thỏa thuận trước đó nên ông Trực, bà Linh không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng vụ án:

Ngày 05/8/2019 bà Lương Ngọc Nữ gửi đơn khởi kiện ông Lương Trung T bà Nguyễn Thị Mỹ L tại tòa án tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Căn cứ điều 25, điểm a khoản 1 điều 33, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Căn cứ điều 588 Bộ luật dân sự năm 2015, điều 184 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đơn kiện của Nữ còn trong thời hiệu khởi kiện.

Tại Tòa, vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An nhận định quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân theo qui định pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo qui định pháp luật. Về nội dung: việc bà Nữ thi công đường nước ngần và 2 hố ga trân phần đất của ông Trực bà Linh là có sự đồng ý của ông Trực và bà Linh. Tuy nhiên trước khi thi công hai bên không ký kết hợp đồng để quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên cũng như quy cách, kích thước của đường nước nên dẫn đấn tranh chấp. Theo Chứng thư thẩm định giá của công ty TNHH giám định và thẩm định giá Thương Tín ngày 26/02/2020 thì công trình xây dựng đường ống nước và 02 ga do bà Nữ xây dựng có giá trị là 58.701.000 đồng. Tuy nhiên đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường chi chí xây dựng đã bỏ ra là 56.621.000đ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584, 585, 589 BLDS 2015 chấp nhận một phân yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lương Trung T, bà Nguyễn Thị Mỹ L bồi thường cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ số tiền 28.310.500 đồng.

. Về nội dung vụ án: Giữa các đương sự có sự thống nhất:

Năm 2018 bà Nữ và ông Trực bà Linh có thỏa thuận làm đường nước ngầm để sản xuất lúa. Hai bên chỉ nói miệng với nhau không có thỏa thuận quy cách đường nước cũng như Thiết kế Kỹ Thuật. Đầu năm 2019 bà Nữ đã tiến hành thi công đường nước ngầm đi qua phần đất do ông Trực bà Linh đứng tên quyền sử dụng đất, khi bà Nữ Tiền hành thi công đường 90% đường nước thì ông Trực bà Linh không cho thi công và lấp hố ga không cho bà Nữ sử dụng đường nước.

Giữa các đương sự không thống nhất: Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Nữ cho rằng: ông Trực bà Linh không cho bà Nữ sử dụng đường nước làm thiệt hại cho bà Nữ, nên yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền bỏ ra làm đường nước với số tiền là 56.621.000đ. Ông Trực bà Linh cho rằng bà Nữ có làm bản cam kết sau khi làm đường nước sẽ ký bản hợp đồng để sử dụng đường nước, nhưng sau khi làm gần xong công trình ông Trực bà Linh có đưa bản hợp đồng để bà Nữ ký thì bà Nữ không Ký nên ông Trực bà Linh mới không cho thi công tiếp và lấp lại hố ga không cho bà Nữ xử dụng. Lỗi là hoàn toàn do bà Nữ.

. Xét thấy: Việc bà Nữ có mướn người thi công đường nước qua phần đất của ông Trực bà Nữ là có thật chi phí bà Nữ bỏ ra làm đường ông Nước theo bà Nữ là 56.321.000đ theo kết quả định giá là 58.710.000đ. Trong quá trình thi công đường nước ông Trực bà Linh tự nguyện mở rào để cho bà Nữ thi công đường nước. Trước khi thi công hai bên chưa ký kết hợp đồng để quy định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên cũng như quy cách, kích thước… xây dựng nên khi thực hiện dẫn đến tranh chấp, hiện tại đường nước và 02 ga đã bị lấp lại không ai sử dụng. Do đó lỗi dẫn đến thiệt hại là do cả hai bên nên mỗi bên phải chịu ½ giá trị thiệt hại. Theo Chứng thư thẩm định giá của công ty TNHH giám định và thẩm định giá Thương Tín ngày 26/02/2020 thì công trình xây dựng đường ống nước và 02 ga do bà Nữ xây dựng có giá trị là 58.701.000 đồng. Tại phiên Tòa đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường chi chí xây dựng đã bỏ ra là 56.621.000đ, là có lợi cho bị đơn, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận chi phí này. Vì vậy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Buộc ông Lương Trung T, bà Nguyễn Thị Mỹ L bồi thường cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ số tiền 28.310.500 đồng là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu tháo dỡ đường nước của bị đơn: Về đường nước ngầm và hai hố ga xây dựng trên đất của ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Tại phiên tòa, ông Trực bà Linh không yêu cầu nguyên đơn tháo dỡ nhưng khi ông bà sử dụng để xây dựng hoặc trồng trọt nếu có làm hư hỏng thì nguyên đơn tự chịu, ông bà không bồi thường. Ông Đỗ Minh Tấn đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng thống nhất không sử dụng đường nước ngầm và các hố ga này, trường hợp ông Trực bà Linh sử dụng có làm hư hỏng cũng không yêu cầu bồi thường nên cần ghi nhận ý chí của các đương sự.

Về chi phí thẩm định và định gái tài sản là 4.800.000đ mỗi bên phải chị ½ chi phí, số tiền này nguyên đơn đã ứng ra nên ông Trực bà Linh phải hoàn trả lại cho nguyên đơn 2.400.000đ

. Về án phí: Nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bị đơn ông Lương Trung T, bà Nguyễn Thị Mỹ L không phải chịu án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi. Bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 272; Điều 273; Điều 278; Điều 280, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 586, Điều 588, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015,

Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện các nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ đã chết) với ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L.

Buộc ông Lương Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L buồi thường cho các nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lương Ngọc Nữ đã chết) số tiền là: 28.310.500đ.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác.

4. Về án phí: Nguyên đơn Ông Lâm Hồng N, Bà Lâm Thị Xuân D, Ông Lâm Xuân H, bị đơn ông Lương Trung T, bà Nguyễn Thị Mỹ L không phải chịu án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Bà Lâm Thị Yến O, Lâm Thị Ngọc M, Lâm Thị Yến P liên đới chịu 708.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ