vanban.org

Bản án 28/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 22/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Lê Trọng N 22 (hai mươi hai) tháng tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HSST
Ngày: 22/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Tiền

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thư ký Toà án: Bà Tạ Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại Hội trường Nhà Văn hóa xóm Xuân Hà 3, xã

Thành Công, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2019/HSST ngày 31/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34 /2019/QĐXX ngày 06/3/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trọng N; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 28/5/1990.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 12, thôn Văn Lãng, xã Trực

Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không. Con ông: Lê Phát N (đã chết); con bà: Ninh Thị N, sinh năm 1955. N là con duy nhất trong gia đình. Có vợ: Ngô Thị H, sinh năm 1991. Vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2018.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2018, bị Công an thị xã Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi “Đánh bạc”tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0046335/QĐ-XPHC ngày 22/9/2018. Đã thi hành xong Quyết định trên vào ngày 12/11/2018.

(theo danh bản, chỉ bản số: 27 do Công an thị xã Phổ Yên lập ngày

07/12/2018).

Biện pháp ngăn chặn: Lê Trọng N bị tạm giữ từ ngày 04/12/2018 đến ngày

13/12/2018, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phổ Yên. Ngày 28/01/2019, chuyển đến Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người chứng kiến:

1. Anh Trần Đức D, sinh năm 1980

TQ: Xóm Thanh Xuyên 4, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên

2. Anh Lương Văn V, sinh năm 1984

TQ: Xóm Thanh Hoa, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

1.Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, Tổ công tác Công an thị xã Phổ Yên

phối hợp với Công an xã Trung Thành làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh tại khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có đối tượng nghi vấn liên quan đến mua bán trái phép chất ma túy. Khi làm nhiệm vụ phát hiện tại hành lang bên phải đường quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội – Thái Nguyên có một đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Khi tiến hành kiểm tra người nam giới khai tên là Lê Trọng N, sinh năm 1990, trú tại xã Trực Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. N đã tự nguyện lấy trong tay phải 01 gói giấy màu xanh bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục giao nộp cho công an. N khai chất rắn màu trắng đục trong gói giấy là Heroine, N đi mua về để sử dụng do bị nghiện, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Căn cứ vào lời khai của Lê Trọng N, tổ công tác lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (ký hiệu A) theo quy định, đưa người và vật chứng đã thu được về CQCS điều tra Công an thị xã Phổ Yên giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, CQCSĐT Công an thị xã Phổ Yên tiến

hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu A, cân trọng lượng vật chứng và lấy mẫu giám định; kết quả: Sử dụng cân điện tử cân trọng lượng không bì số chất rắn mầu trắng đục được 0,132 gam, Tất cả số chất rắn màu trắng đục nêu trên được niêm phong lại ký hiệu M để gửi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Thái Nguyên; số vỏ bao mẫu của phong bì niêm phong A cho vào phong bì ký hiệu N lưu kho.

Cùng ngày, CQĐT Công an thị xã Phổ Yên ra Quyết định trưng cầu giám định

số 16/CSĐT đối với chất bột màu trắng đục được niêm phong trong phong bì kín ký hiệu M thu giữ của Trần Trọng N, yêu cầu giám định để xác đinh các chất thu giữ có phải là ma túy không? nếu ma túy là loại gì, trọng lượng (khối lượng) của mẫu giám định?

Tại bản Kết luận giám định số: 88/KL – PC54 ngày 11/12/2018 của Phòng kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong mẫu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,132 gam;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Trọng N khai nhận:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ 15 phút ngày 04/12/2018, N đi

nhờ xe từ cầu Vát thuộc thôn Đa Hội, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đến khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về để sử dụng. Khi đến xóm Kim Tỉnh, Nhân đi vào một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín, có rèm màu đen che trước cửa, nằm bên phải hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội đi Thái Nguyên. N cầm số tiền 150.000 đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) đưa qua lỗ cửa nhỏ phía dưới sát nền bê tông vào bên trong ngôi nhà thì có người ở trong nhà cầm tiền rồi đưa qua lỗ cửa cho N 01 (một) gói ma túy loại Heroine được gói bên ngoài bằng gói giấy màu xanh. N không biết chủ ngôi nhà trên và người bán ma túy cho N là ai. Sau khi mua được ma túy, N cầm ở tay phải rồi đi bộ ra đường để bắt xe về thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. N đã tự nguyện giao nộp gói ma túy vừa mua được mục đích N mua ma túy để sử dụng, không nhằm bán lại.

2. Cáo trạng truy tố của VKS: Tại bản cáo trạng số 27/KSĐT ngày 29/01/2019

của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố Lê Trọng N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên Quyết định truy tố đối với Lê Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.

Xét về nhân thân Bị cáo chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự: Năm 2018, bị

Công an thị xã Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0046335/QĐ-XPHC ngày 22/9/2018. Đã thi hành Quyết định trên vào ngày 12/11/2018.

Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội;

bị cáo có bố đẻ là người có công được cấp Bằng ghi công trong phong trào chống Mỹ cứu nước trên mặt trận Giao thông vận tải.

Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại

Điều 52 BLHS.

Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 38; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 - 24 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ

luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định 0,119 gam

Bị cáo được quyền kháng cáo và phải chịu án phí HSST theo quy định.

Ý kiến của của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị

HĐXX cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS thị xã Phổ Yên không đưa ra

quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm

của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố

tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi bị truy tố và xét xử của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo

tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ khi lập biên bản phạm tội quả tang, kết quả giám định ma túy và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, Lê Trọng N có hành vi mua 01 gói

giấy bên trong chứa chất rắn màu trắng đục (theo N là Heroine), khi mua xong N cầm trên bàn tay phải đem về để sử dụng, khi đến khu vực hành lang giao thông đường Quốc lộ 3 thì bị phát hiện bắt giữ, khối lượng ma túy có trọng lượng 0,132 gam, kết quả giám định là Heroine là hoàn toàn đúng hành vi phạm tội. Do đó, việc cất giữ ma túy trong người của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như VKS nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố là có căn cứ.

. Bản cáo trạng số: 27/KSĐT ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân

dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố Lê Trọng N về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:

“1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05năm”

c. Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam…”

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm,

bởi tệ nạn ma tuý là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, và của toàn xã hội. Việc Các cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Phổ Yên lựa chọn làm án trọng điểm mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai tại địa phương ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên có tình tiết giảm nhẹ TNHS được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ là ông Lê Phát N là người được tặng Bằng ghi công do có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng

TNHS tại Điều 52 BLHS.

Về nhân thân và hình phạt cần áp dụng: Mặc dù chưa có tiền án, nhưng có

01 tiền sự: Năm 2018, bị Công an thị xã Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi“Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0046335/QĐ-XPHC ngày 22/9/2018, mức phạt 1.500.000đ, N đã thi hành Quyết định nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 12/11/2018. HĐXX sẽ cân nhắc mức án trong khi lượng hình. Để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo một thời gian nhất định để làm gương răn đe chung. Tuy nhiên xét thấy tại phiên tòa bị cáo trình bầy hoàn cảnh gia đình vợ ốm đau lại mới sinh con, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

.Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự

còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5000.000đ đến 500.000.000đ…” Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không có tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ

Yên tại phiên tòa đối với bị cáo có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định 0,119 gam

cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí HSST và được

quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

.Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi bắt quả tang do

bị cáo Lê Trọng N giao nộp, bị cáo khai mua tại ngôi nhà có cửa xếp sắt đóng kín nằm bên phải đường Quốc lộ 3 theo hướng Hà Nội - Thái Nguyên (N không biết nhà của ai) thuộc khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, cũng không biết người bán ma túy là ai. Do đó, kiến nghị với CQĐT Công an thị xã Phổ Yên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, nếu có căn cứ thì xử lý người bán ma túy theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt:

Bị cáo Lê Trọng N 22 (hai mươi hai) tháng tù

Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/12/2018.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo Lê Trọng Nhân

45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M, ghi hoàn

lại 0,119 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu N, ghi mẫu lưu kho.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/02/2019 giữa cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên với Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên)

5. Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Trọng Nh phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách

Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết bị cáo có quyền kháng

cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ