vanban.org

Bản án 28/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe máy biển số WJ, số máy FMH-10437821, số khung CHLC41AS34083 (tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng số 34/PNK ngày 16/01/2019 của công an quận Tân Bình) trong thời hạn 12 tháng, nếu quá hạn vẫ…

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe máy biển số WJ, số máy FMH-10437821, số khung CHLC41AS34083 (tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng số 34/PNK ngày 16/01/2019 của công an quận Tân Bình) trong thời hạn 12 tháng, nếu quá hạn vẫ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HSST
Ngày : 12/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Liên Hƣơng

2/ Ông Vũ Trung Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thƣ ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

TRƢƠNG CÔNG M sinh năm 1971 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cƣ trú: 50A Khóm T, phƣờng S, thành phố V, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng Văn Ô (chết) và bà Trầm Thị Ơ (chết); vợ: Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1974 (đã ly hôn) con: Trƣơng Phát I, sinh năm 1992, Trƣơng Tuyết Y, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 09/11/2018 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 2 giờ 45 phút ngày 09/11/2018, Công an phƣờng M, quận B tuần tra đến giao lộ đƣờng BC5 – Đ, phƣờng M, quận B phát hiện Trƣơng Công M dừng xe máy biển số WJ có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong chiếc bóp màu xám, hình thoi bằng vải có gắn chìa khóa xe gắn máy biển số WJ của M đang cắm ở ổ khóa xe có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, hàn kín hai đầu. Kết luận giám định số 1824/KLGĐ-H ngày 13/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết quả chất tinh thể không màu có khối lƣợng 0,4716 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (MA). Quá trình điều tra, Trƣơng Công M khai nhận bản thân là thợ hồ và nghiện ma túy nên khoảng 22 giờ 00 ngày 06/11/2018, M đến chung cƣ LG, Quận O gặp M Cua (không xác định đƣợc lai lịch) mua 03 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng, M sử dụng hết 01 gói ma túy còn lại 02 gói M cất giấu trong bóp gắn chìa khóa xe máy biển số WJ. Ngày 09/11/2018, M đang chạy trên giao lộ BC5 – Đ, phƣờng M, quận B thì bị Công an phƣờng M, quận B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang nhƣ nêu trên. Kiểm tra M dƣơng tính với ma túy. Vật chứng thu giữ:

- 01 USB màu xanh ghi lại đoạn clip tổ tuần tra Trƣơng Công M điều khiển xe máy biển số WJ tại ngã ba BC5 – Đ, phƣờng M, quận B.

- 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 1824, là số ma túy còn lại sau giám định.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, có pin và sim, là tài sản cá nhân của M dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến vụ án.

- 01 chiếc bóp màu xám, hình thoi gắn chìa khóa, M khai nhận cất giấu ma túy vào trong chiếc bóp vải trên.

- 01 xe máy biển số WJ, số máy FMH-10437821, số khung CHLC41AS34083. Qua xác minh đứng tên chủ sở hữu là Đoàn Đức F (sinh năm 1979, HKTT: 148 Đƣờng Z, phƣờng PS, thành phố L, tỉnh Khánh Hòa). Qua xác minh tại Công an phƣờng PS, thành phố L, tỉnh Khánh Hòa, F không sinh sống tại địa phƣơng, không làm việc đƣợc. Trƣơng Công M khai nhận vào khoảng tháng 4/2018 M mua chiếc xe trên của ngƣời bạn thợ hồ tên Bi (không xác định lai lịch) với giá 1.300.000 đồng, không có giấy đăng ký xe, do xe cũ nên không làm thủ tục sang tên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu, đến nay chủ sở hữu chƣa liên hệ làm việc. Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 13 tháng 02 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trƣơng Công M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và khai giống lời khai tại cơ quan điều tra. Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trƣơng Công M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 2 đến 3 năm tù, về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trƣơng Công M, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đƣợc phân công điều tra giải quyết vụ án, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đƣợc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ quá trình điều tra, truy tố, diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu đƣợc trong hồ sơ vụ án thì Trƣơng Công M có hành vi cất giấu 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, hàn kín hai đầu bên trong chiếc bóp màu xám, hình thoi bằng vải có gắn chìa khóa đang cắm ở ổ khóa xe gắn máy biển số WJ của M sử dụng vào khoảng 2 giờ 45 phút ngày 09/11/2018 tại giao lộ đƣờng BC5 – Đ, phƣờng M, quận B thì bị Công an phƣờng M, quận Bphát hiện bắt quả tang.

Căn cứ kết luận giám định số 1824/KLGĐ-H ngày 13/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết quả chất tinh thể không màu có khối lƣợng 0,4716 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (MA).

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy, mà còn làm ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phƣơng. Bản thân bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc tác hại của việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy và biết pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc loại tội phạm ma túy, nhƣng do coi thƣờng pháp luật và để phục vụ, đáp ứng nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Trƣơng Công M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo tàng trữ 0,4716 gam ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 1824 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định) là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, có pin và sim, số imei 1: 352107029536678, số imei 2: 352107029536668 là tài sản cá nhân của bị cáo M dùng liên lạc hàng ngày, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 chiếc bóp màu xám, hình thoi gắn chìa khóa (bên trong không có gì) là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe máy biển số WJ, số máy FMH-10437821, số khung CHLC41AS34083. Qua xác minh đứng tên chủ sở hữu là Đoàn Đức F (sinh năm 1979, HKTT: 148 Đƣờng Z, phƣờng PS, thành phố L, tỉnh Khánh Hòa). Qua xác minh tại Công an phƣờng PS, thành phố L, tỉnh Khánh Hòa, F không sinh sống tại địa phƣơng, không làm việc đƣợc. Trƣơng Công M khai nhận vào khoảng tháng 4/2018 M mua chiếc xe trên của ngƣời bạn thợ hồ tên Bi (không xác định lai lịch) với giá 1.300.000 đồng, không có giấy đăng ký xe, do xe cũ nên không làm thủ tục sang tên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu xe máy trên nhƣng có kết quả nên tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trong một thời gian nhất định, nếu quá thời hạn vẫn không có ngƣời đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 106; Điều 268, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014; 1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Công M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: TRƢƠNG CÔNG M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2018 2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 1824 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định); 01 chiếc bóp màu xám, hình thoi gắn chìa khóa (tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng số 34/PNK ngày 16/01/2019 của công an quận Tân Bình). Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, có pin và sim, số imei 1: 352107029536678, số imei 2: 352107029536668 (tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng số 34/PNK ngày 16/01/2019 của công an quận Tân Bình).

Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của xe máy biển số WJ, số máy FMH-10437821, số khung CHLC41AS34083 (tình trạng theo phiếu nhập kho vật chứng số 34/PNK ngày 16/01/2019 của công an quận Tân Bình) trong thời hạn 12 tháng, nếu quá hạn vẫn không tìm đƣợc chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên thì tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đƣơng sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ