vanban.org

Bản án 28/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 23/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 35 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Lương Văn K phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: bị cáo Lương Văn K 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Kh - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 35 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤC HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HSST
Ngày 23/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤC HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nông Thanh Điệp

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Ánh Tiếp và ông Vương Đình Thiêm

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: ông Hoàng Quốc Khánh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phục Hòa.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa tham gia phiên tòa: ông Bế Thanh Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/HSST ngày 19/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/HSST-QĐTA ngày 12/7/2019 đối với bị cáo:

Lương Văn K; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1966 tại Phục Hòa – Cao Bằng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: xóm B thị trấn T huyện P tỉnh Cao Bằng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 01/12; con ông Lương Văn S, sinh năm 1923 (đã chết); con bà Bế Thị N (đã chết); Vợ: Nông Thị N, sinh năm 1968; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993; Anh chị em ruột: Bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo con thứ 03 trong gia đình;

Tiền sự: Không có.

Bị cáo có 01 tiền án, ngày 25/9/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được xóa án tích.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Đàm Văn B, trú tại: xóm K xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

2. Vương Văn T, trú tại: xóm L xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

3. Lương Văn Đ, trú tại: xóm C xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

4. Đinh Văn L, trú tại: xóm K xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

5. Đàm Văn D, trú tại: Bản S xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

6. Mông Văn C, trú tại: xóm L xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/5/2019 tổ công tác Công an huyện Phục Hòa đã bắt quả tang tại nhà Đàm Văn B (tại xóm K xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng) có các đối tượng Lương Văn K, Đàm Văn B, Mông Văn C, Lương Văn Đ, Đàm Văn D, Đinh Văn L, Vương Văn T đang cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền mặt. Tang vật thu giữ trực tiếp trên chiếu bạc số tiền 4.534.000 đồng, 01 bộ bài Tây 52 lá. Ngoài ra thu giữ trong người của Mông Văn C số tiền 240.000 đồng, 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy; của Lương Văn Đ số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy; của Vương Văn T 6.900.000 đồng; 01 điện thoại di động, 01 xe máy; của Đàm Văn B 01 điện thoại di động, 01 ví da; của Đinh Văn L 01 chiếc xe máy; của Đàm Văn D 01 điện thoại, 01 xe máy.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2019 Lương Văn K đến nhà Đàm Văn B (tại xóm K xã Đ huyện P tỉnh Cao Bằng) chơi thì thấy Mông Văn C, Lương Văn Đ, Đinh Văn L, Vương Văn T đang đánh bài uống rượu. Sau đó K, B, C, Đ, L, T rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền mặt tại nhà của B. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì có Đàm Văn D cũng tham gia đánh cùng. Cách thức đánh bạc như sau: Các đối tượng ngồi vòng tròn, sử dụng bộ bài Tây (tú lơ khơ) 52 lá để đánh, mỗi ván bài mỗi người chơi được chia 03 lá bài, sau khi chia người chơi có các lựa chọn là Úp bài, Theo, Tố hay Tất tay. Nếu Úp bài người chơi sẽ mất số tiền “góp gà” và kết thúc ván bài tại đó, nếu Theo thì người chơi đặt tiền cược đúng bằng số tiền của những người cửa trên đã đặt. Cách tính thắng thua của người chơi như sau: Thứ tự bài có giá trị từ cao đến thấp là Sáp, Liêng, Ảnh. Nếu bài không có Sáp, Liêng, Ảnh thì tính điểm để xác định người thắng cuộc. Trong ván bài người nào có bộ bài mang giá trị cao nhất theo luật chơi “Liêng” sẽ là người thắng cuộc và được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã “góp gà” và Tố mỗi ván 10.000 đồng, Tố thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng. Khi đánh bạc B bỏ ra số tiền khoảng 800.000 đồng, K bỏ ra 500.000 đồng; C, Đ, L mỗi người bỏ ra 50.000 đồng; D và T mỗi người bỏ ra 100.000 đồng. Đến khi bị lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản, thu giữ trực tiếp trên chiếu bạc số tiền 4.534.000 đồng, 01 bộ bài Tây 52 lá.

Kết quả điều tra xác định trong số tiền 4.534.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, có 1,6 triệu đồng là tiền của Đàm Văn D vừa bỏ từ trong người ra khi lực lượng chức năng yêu cầu, cho nên Cơ quan điều tra đã trả 1,6 triệu đồng cho Đàm Văn D.

Đối với 01 điện thoại di động, 01 ví da thu giữ của Đàm Văn B; Số tiền 240.000 đồng, 01 điện thoại di động, 01 chiếc xe máy thu giữ của Mông Văn C; 01 điện thoại di động, 01 chiếc xe máy, số tiền 500.000 đồng thu giữ của Lương Văn Đ; 01 chiếc xe máy thu giữ của Đinh Văn L; số tiền 1.600.000 đồng, 01 điện thoại, 01 xe máy thu giữ của Đàm Văn D và 01 chiếc xe máy, 01 điện thoại di động, số tiền 6.900.000 đồng thu giữ của Vương Văn T, kết quả điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Đối với hành vi đánh bạc của Đàm Văn B, Mông Văn C, Lương Văn Đ, Đàm Văn D, Đinh Văn L, Vương Văn T chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Công an huyện Phục Hòa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Lương Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lương Văn K về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lương Văn K từ 20 đến 25 triệu đồng. Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phục Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2019, tại nhà riêng Đàm Văn B, cơ quan chức năng phát hiện và bắt quả tang Lương Văn K, Đàm Văn B, Mông Văn C, Lương Văn Đ, Đàm Văn D, Đinh Văn L, Vương Văn T đang cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền mặt. Tang vật thu trên chiếu bạc là số tiền 2.934.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng Lương Văn K đã bị kết án về tội Đánh bạc, chưa được xóa án tích nên hành vi đánh bạc nêu trên của Lương Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Cáo trạng số 27/CTr-VKS ngày 19/6/2019 của VKSND huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, vi phạm sự quản lý thống nhất của Nhà nước về các hình thức cá cược, vui chơi có thưởng, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, là tệ nạn xã hội bị quần chúng nhân dân lên án. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình, đã từng bị xét xử về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm với động cơ vụ lợi, ăn thua bằng tiền. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đã đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng các điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Phần nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt để có cơ hội sửa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bộ quân bài Tây gồm 52 lá bài. Đây là công cụ dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 2.934.000đ (hai triệu chín trăm ba mươi tư nghìn đồng) là số tiền bắt quả tang trên chiếu bạc, sẽ bị tịch thu để sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím cơ, số seri1: 358980094811776, số seri2: 3589800991171. Đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 35 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: bị cáo Lương Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: bị cáo Lương Văn K 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) bộ quân bài Tây gồm 52 lá bài;

- Tịch thu để sung ngân sách nhà nước: 2.934.000đ (hai triệu chín trăm ba mươi tư nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím cơ, số seri1: 358980094811776, số seri2: 3589800991171.

Xác nhận số vật chứng của vụ án hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phục Hòa.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

"Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ