vanban.org

Bản án 28/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 16/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HSST
Ngày 16/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Phụng

Bà Trần Xuân Đạm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quang – Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/HSST ngày 08/4/2019 đối với các bị cáo:

1/ Hồ Thị Kim L, sinh năm 1971; Nơi cư trú: ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Cha: Hồ Văn T (đã chết) Mẹ: Trần Thị L (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn M, sinh năm 1964; có 02 người con lớn nhất sinh năm 1989; nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 22/01/2019, thực hiện hành vi đánh bạc bị bắt quả tang và tam giữ đến ngày 31/01/219 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2/ Mai Thị Kim X, sinh năm 1961; Nơi cư trú: ấp Hiệp Tâm, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 4/12; Cha: Mai Văn N (đã chết) Mẹ: Nguyễn Thị Th (đã chết); có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1949, nhỏ nhất là bị cáo; Chồng: Lê Văn B, sinh năm 1959; có 03 người con lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án; tiền sự: Không

Ngày 22/01/2019, thực hiện hành vi đánh bạc và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963

Nơi cư trú: ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước

Vắng mặt tại phiên toà

- Bà Trương Thị Thuý E, sinh năm 1990

Nơi cư trú: ấp Hiệp Hoàn, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước

Vắng mặt tại phiên toà

- Ông Võ Lê S, sinh ngày 16/11/2003

- Người giám hộ cho Võ Lê S: ông Võ Văn Th, sinh năm 1972

Nơi cư trú: : Ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước

Vắng mặt tại phiên toà

- Bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1994

Nơi cư trú: Ấp Hiệp Tâm A, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước

Có mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21/01/2019 Hồ Thị Kim L gặp một người tên Cu (hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực chợ Lộc Hiệp. Tại đây, Cu thỏa thuận với L đi gom phơi đề của các con bạc ghi tại chợ Lộc Hiệp về giao cho Cu và Cu sẽ trả tiền công và khi đi gom phơi đề thì L quy ước với các con bạc ghi đề được hưởng 7% trên tổng số tiền ghi được của những người ghi đề và quy định tỷ số thắng thua 1 ăn 70 lần đối với hình thức đánh số đề ghi hai con; 01 ăn 600 lần đối với hình thức đánh đề ghi ba con số.

Đến khoảng 15 giờ 45 Phút ngày 22/01/2019, Hồ Thị Kim L điều khiển xe mô tô biển số 93F1-11.009 đi gom được 10 tờ phơi đề với tổng số tiền đánh bạc là 32.791.000 đồng. Trong đó, 03 tờ phơi đề của Mai Thị Kim X giao cho L với tổng số tiền là 9.211.000 đồng gồm: X ghi 01 tờ, 01 tờ người bán vé số dạo giao lại cho X, 1 tờ X đi lấy của Võ Lê S để giao lại cho L, 01 tờ của Trương Thị Thúy E giao cho L với số tiền là 2.205.000đồng; 01 tờ Nguyễn Thị C giao cho L với số tiền 1.183.000 đồng. Còn lại 05 tờ phơi đề L lấy của những người bán vé số dạo nên chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N phối hợp cùng Công an xã Lộc H bắt quả tang;

Vật chứng thu giữ:

10 tờ phơi đề; 01 xe mô tô biển số 93F1-11.009; 01 điện thoại di động Nokia và số tiền 5.000.000 đồng;

Trong quá trình điều tra Mai Thị Kim X đã tự nguyện giao nộp lại số tiền ghi đề là 1.276.000đ; Trương Thị Thúy E giao nộp lại số tiền là 1.839.000 đồng;

Tại bản cáo trạng số: 35/CTr/VKS-KSHS ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Hồ Thị Kim L và Mai Thị Kim X về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim L từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo

Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Thị Kim X từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo

Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số: 93-F1- 11.009, là xe của Nguyễn Thị Minh T2 con gái của L, khi L lấy xe đi dùng vào việc phạm tội T2 không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho Nguyễn Thị Minh T2;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.115.000 đồng do phạm tội mà có và đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho Hồ Thị Kim L số tiền 4.000.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia; không liên quan đến vụ án.

Đối với số tiền 5.712.000đ của Võ Lê S ghi đề thu được S sau khi L bị bắt Sang đã trả lại cho những người ghi đề và số tiền 22.964.000đ của những người bán vé số ghi đề giao lại cho L nhưng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người ghi đề nên không thu hồi được.

Đề nghị lưu hồ sơ vụ án 10 phơi đề kèm theo hồ sơ vụ án

Đối với Võ Lê S có hành vi ghi số đề tuy đủ định lượng nhưng khi phạm tội S chưa đủ 16 tuổi và Trương Thị Thủy E; Nguyễn Thị C có hành vi ghi số đề nhưng không đủ định lượng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính, đối với tên Cu thỏa thuận với L đi gom phơi đề về giao cho Cu và một số người bán vé số dạo giao phơi đề cho L chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào xác định được xử lý sau

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay, các bị cáo đã hoàn toàn thú nhận hành vi phạm tội của mình gây ra, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 22/01/2019, tại ấp Hiệp Tâm, xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước, bị cáo Hồ Thị Kim L và Mai Thị Kim X có hành vi đánh bạc (ghi số đề). Trong đó số tiền L đánh bạc là 32.791.000 đồng; Mai Thị Kim X đánh bạc với số tiền là 9.211.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, xem thường pháp luật xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, có giai đoạn chuẩn bị phạm tội rõ ràng, tội phạm đã hoàn thành. Các bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân mà các bị cáo vẫn tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số đề. Hành vi của các bị cáo là xem thường pháp luật gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự công cộng tại địa phương.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, để có cơ sở quyết định hình phạt cho từng bị cáo cần đi sâu phân tích vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Đối với bị cáo L tuy không trực tiếp ghi đề nhưng nhận phơi đề của những người khác giao lại, sau đó bị cáo giao các phơi đề cho Cu để hưởng hoa hồng và đóng vai trò chính trong vụ án, còn đối với bị cáo X đồng phạm giúp sức cho bị cáo L, là người trực tiếp ghi số đề và nhận phơi đề của người khác để giao cho bị cáo L hưởng tiền hoa hồng.

Hành vi đánh bạc của các bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy các bị cáo Hồ Thị Kim L và Mai Thị Kim X về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử cần xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, có đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Tuy nhiên tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên am hiểu luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo X tự nguyện giao nộp số tiền 1.276.000 đồng do phạm tội mà có, là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 đối với hai bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số: 93-F1- 11.009, là xe của Nguyễn Thị Minh T2 con gái của bị cáo L, khi L lấy xe đi dùng vào việc phạm tội T2 không biết nên trả lại cho Nguyễn Thị Minh T2;

Số tiền 4.115.000đ do phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Hồ Thị Kim L số tiền 4.000.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia.

Đối với số tiền 5.712.000đ của Võ Lê S ghi đề thu được S sau khi L bị bắt S đã trả lại cho những người ghi đề và số tiền 22.964.000đ của những người bán vé số ghi đề giao lại cho L nhưng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người ghi đề nên không thu hồi được nên không xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét

Lưu hồ sơ vụ án 10 phơi đề kèm theo hồ sơ vụ án

Đối với Võ Lê S có hành vi ghi số đề tuy đủ định lượng nhưng khi phạm tội S chưa đủ 16 tuổi và Trương Thị Thủy E; Nguyễn Thị C có hành vi ghi số đề nhưng không đủ định lượng nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính, đối với tên Cu thỏa thuận với L đi gom phơi đề về giao cho Cu và một số người bán vé số dạo giao phơi đề cho L chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào xác định được xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Kim L và Mai Thị Kim X phạm tội: “Đánh bạc”.

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Hồ Thị Kim L: 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo: Mai Thị Kim X: 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Lộc H, huyện N, tỉnh Bình Phước quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.115.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Hồ Thị Kim L số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia.

Lưu hồ sơ vụ án 10 phơi đề kèm theo hồ sơ vụ án

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Minh T2 01 xe mô tô biển số 93F1-11.009

Riêng số tiền 4.115.000 đồng kèm theo hồ sơ vụ án

Số tang vật là xe máy và điện thoại hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 0006614 ngày 16/5/2019.

3/ Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Bị cáo, Người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú lên Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ