vanban.org

Bản án 28/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/09/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01phong bị niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi (vụ Bùi Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙi THị Hồng ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƢỚC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HSST
Ngày 28 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC – TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Trần Thị Quyên C¸c Héi thÈm nh©n d©n :

1. Ông Nguyễn Văn Đàn

2. Bà Phạm Thị Yến Th

ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bà Cao Thị Nhung, Th ký Tßa ¸n, Toµ ¸n nh©n

d©n huyÖn B¸ Th íc, tØnh Thanh Ho¸. §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn B¸ Th íc tham gia phiªn toµ:

Ông Lê Đình Thuật - KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 28 th¸ng 11 n¨m 2019, t¹i trụ sở Tòa án nhân dân huyÖn Bá Thước, tØnh Thanh Hóa; XÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 26/2019/HSST ngµy 11/11/2019

§èi víi bÞ c¸o: Bùi Thị H ; Sinh n¨m 1990.

N¬i c tró: Th«n T , x· Đ T , huyÖn B T , tØnh T H

NghÒ nghiÖp: LĐTD; Tr×nh ®é v¨n ho¸: 9/12.

Căn cước công dân số: 038190007558 cấp ngày 27/12/2017. Nơi cấp Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư.

D©n téc: Mường; T«n gi¸o: Kh«ng; Quèc tÞch: ViÖt Nam.

Con «ng: Bùi Văn T (đã chết) và bà Lê Thị Đ

Gia đình có ba chị em bị cáo là con út.

Bị cáo có chồng là Phạm Ngọc P (đã ly hôn năm 2014); có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2019 đến nay.

NGười có quyền lợi nghĩa vụ lien quan: Anh Bùi Văn P ; Sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn N L , xã C L , huyện C T , tỉnh T H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ diÔn biÕn t¹i phiªn tßa, néi dung

vô ¸n ® îc tãm t¾t nh sau:

Khoảng 22 giờ ngày 16/9/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã mua của 01người đàn ông không quen biết 01gói ma túy tổng hợp với giá 500.000đ sau khi mua được ma túy H đang cầm bên tay trái và tay phải điều khiển xe máy của mình về nhà. Khi đi đến thôn Trúc, xã Điền Trung, huyện Bá Thước thì bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông Phòng cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Thanh Hóa kiểm tra Hành chính. H đã bỏ gói ma túy xuống đường nhưng bị tổ công tác yêu cầu nhặt lên. Bị cáo H khai nhận đó là ma túy tổng hợp. Bị cáo đã bị lập biên bản phạm pháp quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 2132/MT-PC09 ngày 18/9/2019 của phòng kỹ thuật Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “ các tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định có tổng trọng lượng 0,495g loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo H thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng: 01phong bì niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi (vụ Bùi Thị H ) mặt sau được dán kín niêm phong. Bên trong chứa 0,445g ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định.

01 điện thoại iphon màu – đen-xám có số IMEI 358609073259893 có gắn 01 Thẻ sim số 0382850680, điện thoại dã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong.

01 mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha màu trắng BKS: 36L1-14467, số máyJA 39E0397606; số khung RLHJ05210CY675318, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè: 24/CT-VKS-MT ngµy 07/11/2019 VKSND huyÖn B¸ Th íc ®· truy tè bÞ c¸o Bùi Thị H vÒ hành vi "tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 §iÒu 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015;

Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị tiêu hủy toàn bộ vật chứng là methamphetamine vật cấm lưu hành còn lại sau giám định;

Tịch thu tiêu hủy:

01phong bị niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi (vụ Bùi Thị H ) mặt sau được dán kín niêm phong. Bên trong chứa 0,495g ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau gíam định.

Trả lại cho Bùi Thị H : 01 điện thoại iphon màu – đen-xám có số IMEI 358609073259893 có gắn 01 Thẻ sim số 0382850680.

Trả lại cho Bùi Văn P : 01 mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha màu trắng BKS 36L1-14467, số máyJA 39E0397606; số khung RLHJ05210CY675318, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại

phiên tòa. HĐXX nhận định như sau;

. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2015. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2.]Về tội danh: Có căn cứ xác định Bùi Thị H đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy tổng hợp loại có trọng lượng 0,495 g loại Methamphetamine. Đủ cơ sở kết luận Bùi Thị H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước truy tố bị cáo Bùi Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249BLHS năm 2015 là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nghiêm trọng về chế độ quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Trong tình trạng thực tế, hiện tượng nghiện hút, tiêm chích ma túy đang là vấn đề cảnh báo trên địa bàn và là vấn nạn của toàn xã hội. Ma túy đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, tan nát bao gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như “trộm cắp”; “lừa đảo”; “cố ý gây thương tích”; thậm chí “giết người” cũng chỉ để thỏa mãn mục đích có tiền để hút hít...,

Do đó cần phải được xử lý nghiêm minh. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và tránh xa ma túy. Đây cũng là lời cảnh tỉnh đối với những người không làm chủ bản thân trước những cám giỗ, thích sống ảo và cái kết phải đứng trước phiên tòa xét xử ngày hôm nay để nhận hình phạt tương ứng với hành vi vi phạm pháp luật hình sự của mình.

Bản thân bị cáo Bùi Thị H không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4.] Về hình phạt chính Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung HĐXX xét thấy bản thân bị cáo Bùi Thị H không có thu nhập ổn định, sau khi ly hôn bị cáo đang đơn thân nuôi con nên kinh tế khó khăn, việc tàng trữ ma túy chỉ với mục đích để sử dụng nên không phạt bố sung đối với Bùi Thị H .

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm:

+. Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ Trả lại cho Bùi Thị H 01 điện thoại I phon không sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.

+.Trả lại xe máy cho anh P . Bị cáo Bùi Thị H mượn xe của anh P nhưng anh P không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy về sử dụng.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

-Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 và mục 1 phần I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết 326/2016/PL-UBTVQH14.

2.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3.Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/09/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

4.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01phong bị niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành mặt trước có ghi (vụ Bùi Thị H ) mặt sau được dán kín niêm phong. Bên trong chứa 0,445g ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau gíám định.

Trả lại cho Bùi Thị H : 01 điện thoại iphon màu – đen-xám có số IMEI 358609073259893 có gắn 01 Thẻ sim số 0382850680.

Trả lại cho Bùi Văn P : 01 mô tô nhãn hiệu HONDA Wave anpha màu trắng BKS 36L1-14467, số máyJA 39E0397606; số khung RLHJ05210CY675318, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong

Toàn bộ vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06 ngày 11/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước .

5.VÒ ¸n phÝ: Bị cáo Bui Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết án hợp lệ. N¬i nhËn:

TM. héi ®ång xÐt xö

- VKSND cïng cÊp;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ -THA D©n sù ;

- Phßng gi¸m ®èc ¸n ;

- C«ng an ;

- bÞ c¸o,...; ….

- Luu hå s¬;

Trần Thị Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ