- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/HS-ST Ngày: 10/7/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Màu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Mứt
Ông Nguyễn Văn Thiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Nhơn- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Minh T, sinh năm 1994 tại Bình Minh, Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Mỹ Thới 2, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D, sinh năm 1963 và bà Phan Thị T, sinh năm 1967; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại điều tra nhưng bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Thạch S, sinh năm 1981 (chết)
- Người đại diện hợp pháp bị hại:
1. Bà Thạch Thị So P, sinh năm 1961 (là mẹ của bị hại). Có mặt
Địa chỉ: ấp Hóa Thành 1, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
2. Tăng Thị Mai T, sinh năm 1986 (là vợ của bị hại). Vắng mặt
Địa chỉ: ấp Hoá Thành 1, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Uỷ quyền cho bà Thạch Thị So P, sinh năm 1961 được toàn quyền giải quyết.
-Người phiên dịch cho bà Thạch Thị So P: Ông Thạch Sơn, sinh 1959; ở ấp Phù Ly 2, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là giáo viên Trường Tiểu học Phù Ly. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp Mỹ Trung A, xã M, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
Anh Trần Văn S, sinh năm: 1980. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ 2, ấp Đông Hòa 1, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 16/10/2018, Lê Minh T có nhậu cùng với bạn xong thì điều khiển xe mô tô biển số 64H1 – 074.16 chạy một mình về nhà ở ấp Mỹ Thới 2, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long trên quốc lộ 54 theo hướng Bình Minh – Trà Ôn để đi đò Gạch Chanh ở xã Đông Thành về nhà. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi Tiến chạy xe đến Km 59+14 trên QL54 thuộc tổ 3, ấp Đông Hòa 1, xã Đông Thành thì thấy phía trước bên phải theo hướng đi của mình có mặt lộ xấu, đá nhô lên ghồ ghề nên T điều khiển xe lấn sang lề trái rồi va chạm vào xe mô tô biển số 82K2-0181 do anh Thạch S điều khiển chở anh Nguyễn Văn H ngồi sau chạy theo hướng ngược lại dẫn đến tai nạn giao thông làm cho anh Thạch S chết tại chỗ, còn anh Nguyễn Văn H và Lê Minh T bị thương được người dân gần đó đưa đi cấp cứu, hai xe mô tô bị hư hỏng thiệt tại tài sản khoảng hai triệu đồng.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, xác minh các vấn đề có liên quan xác định:
- Hiện trường xảy ra trên Quốc lộ 54 là đường hai chiều, đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt lộ rộng 6m, có vạch sơn kẻ đường màu vàng đứt quãng phân chia mặt đường thành hai làn đường riêng biệt, phần bên phải phía trước điểm va chạm hướng Bình Minh – Trà Ôn có một khúc đường đang sửa chữa, mặt đường có đá ghồ ghề nhưng chưa được khảm nhựa, kích thước dài 12m, rộng 3,08m.
- Vùng va chạm đầu tiên giữa hai xe mô tô nằm bên phần đường bên phải hướng xe của nạn nhân (là hướng đi Trà Ôn – Bình Minh), khoảng cách từ vùng va chạm đầu tiên vào mép đường chuẩn theo hướng Trà Ôn – Bình Minh là 1,85m.
- Đối với Lê Minh T điều khiển xe mô tô lưu thông đi không đúng phần đường (lấn qua lề trái 1,15m) và trong máu có nồng độ cồn 139,38 miligam/100 mililit máu là vượt quá quy định (50 miligam/100 mililit máu). Nên hành vi của T vi phạm vào khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
- Đối với anh Thạch S điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường không có giấy phép lái xe và trong máu có nồng độ cồn 153 miligam/100 mililit máu là vượt quá quy định (50 miligam/100 mililit máu). Nên hành vi của anh Thạch S vi phạm vào khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ.
Căn cứ vào kết luận giám định pháp y về tử thi số 79 ngày 06/11/2018 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Vĩnh Long kết luận nguyên nhân tử vong của anh Thạch S là do: “Dịch bít tắc đường hô hấp gây ngạt/Đa chấn thương”
Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, kết luận lỗi của CSGT – Công an thị xã Bình Minh xác định như sau: “Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên là do Lê Minh T điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường và trong máu có nồng độ cồn vượt quá quy định”
Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và được bà Thạch Thị So P đại diện hợp pháp phía gia đình nạn nhân đã nhận số tiền trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Minh T.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định pháp y nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSBM ngày 23/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố Lê Minh T để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù. Về trách nhiệm dân sự chấp nhận yêu cầu của bà Thạch Thị So P đại điện hợp pháp của bị hại và đại diện theo uỷ quyền của chị Tăng Thị Mai T là vợ của bị hại về yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 57.500.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng do bà Thạch Thi So P đại diện nhận xong, số tiền còn lại là 7.500.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp xong cơ quan thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đang tạm giữ. Đồng thời xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Minh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông, biên bản kết luận giám định pháp y tử thi và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào trưa ngày 16/10/2018, Lê Minh T có nhậu cùng với bạn xong thì điều khiển xe mô tô chạy một mình về nhà ở ấp Mỹ Thới 2, xã M trên quốc lộ 54 theo hướng Bình Minh – Trà Ôn để đi đò Gạch Chanh về nhà. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi T chạy xe đến Km 59+14 trên QL54 thuộc tổ 3, ấp Đông Hòa 1, xã Đông Thành thì thấy phía trước bên phải theo hướng đi của mình có mặt lộ xấu, đá nhô lên ghồ ghề nên Tiến điều khiển xe lấn sang lề trái rồi va chạm vào xe mô tô biển số 82K2-0181 do anh Thạch S điều khiển chở anh Nguyễn Văn H ngồi sau chạy theo hướng ngược lại dẫn đến tai nạn giao thông làm cho anh Thạch S chết tại chỗ, còn anh Nguyễn Văn H và Lê Minh T bị thương được người dân gần đó đưa đi cấp cứu, hai xe mô tô bị hư hỏng thiệt tại tài sản khoảng hai triệu đồng.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng, sức khoẻ của con người, bị cáo điều khiển xe đi không đúng phần đường qui định và trong máu có nồng độ cồn dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Thạch S điều khiển chở anh H ngồi phía sau đang lưu thông ngược chiều, gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết một người và bị thương một người, gây đau thương mất mát lớn cho gia đình nạn nhân không gì bù đắp được, bản thân bị cáo cũng bị thương nặng, hành vi của bị cáo gây mất trật tự xã hội địa phương, lỗi hoàn toàn do ở bị cáo gây ra. Do đó để mọi người phải chấp hành pháp luật được nghiêm thì cần có một mức án tương xứng thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để tập trung cải tạo giáo dục cho bị cáo nhằm tác động giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, cha bị cáo là Lê Văn D tham gia chiến trường Campuchia được tặng Bằng khen, ngoài ra gia đình bị hại cũng xin miễn hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng trong vụ tai nạn trên, nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Bà Thạch Thị So P là mẹ của bị hại Thạch S (Thạch S chết) cha của Thạch S là ông Thạch S đã chết 2014 có khai tử, bà Thạch Thị So P cũng là người đại diện theo uỷ quyền của chị Tăng Thị Mai T vợ của bị hại Thạch S, bà P yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền chung là 57.500.000 đồng (Năm mười bảy triệu, năm trăm ngàn đồng). Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) do bà Thạch Thị So P đại diện nhận xong. Còn lại 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm ngàn đồng) gia đình bị cáo đã nộp xong cơ quan thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đang tạm giữ. Tại phiên toà hôm nay bà Thạch Thị So P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
- Đối với anh Nguyễn Văn H bị thương tích có yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng), bị cáo T đã bồi thường xong nên anh H không yêu cầu gì thêm và từ chối giám định thương tích.
- Đối với xe mô tô biển số 84K2 – 0181 là sỡ hữu của anh Thạch S do anh Trần H đứng tên, cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Thạch Thị So P nhận xong nên không đặt ra xem xét. Chiếc xe này không có tham gia bảo hiểm nên không đặt ra xem xét phần bảo hiểm.
- Đối với xe mô tô biển số 64H1 – 074.16 của T gây tai nạn, cơ quan điều tra đang tạm giữ, cần phải trả lại cho bị cáo T. Chiếc xe này bị cáo có mua bảo hiểm nhưng thời điểm xảy ra tai nạn bảo hiểm đã hết nên không đặt ra xem xét phần bảo hiểm và không phải đưa bảo hiểm vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Đối với bằng lái xe mô tô của bị cáo T cần phải trả lại cho bị cáo T.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 590, 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Ghi nhận việc bị cáo và gia đình bị cáo thỏa thuận với gia đình bị hại do bà Thạch Thị So P đại diện để bồi thường cho bị hại tổng số tiền 57.500.000đ (Năm mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng). Bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) do bà Thạch Thị So P đại diện nhận xong. Số tiền còn lại 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng) gia đình bị cáo đã nộp xong Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đang tạm giữ theo biên lai thu số 001412 ngày 25/4/2019, bà Thạch Thị So P được đại diện nhận số tiền này. Chấp nhận việc bà Thạch Thị So P không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Ghi nhận việc anh Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng), bị cáo T đã bồi thường xong cho anh H, anh H không yêu cầu gì thêm.
- Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 84K2 – 0181 của anh Thạch S cho bà Thạch Thị So P nhận xong.
- Trả lại cho bị cáo Lê Minh T xe mô tô biển số 64H1 – 074.16 (xe do Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Minh đang tạm giữ)
- Trả lại cho bị cáo Lê Minh T bằng lái xe mô tô mang tên Lê Minh T đã nhận xong.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Lê Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4.Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày giao bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương, có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TVL; - CA, VKS, THADS TXBM; - STP tỉnh Vĩnh Long; - Trại giam, Bị cáo, các đ/s; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN Sơn Mứt Nguyễn Văn Thiên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Màu THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Màu |