vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình C 24 ( hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. (Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2018 đến ngày 27/11/2018). Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu itel đã cũ, IMEI: 354083094503800 củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình C phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH PHÚ THỌ
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28 /2019/HS-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Chuyển

2. Ông Lê Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: BàVõ Thị Thanh Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:25 /2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đình C- Sinh ngày: 11/10/1962;

- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 34A, phố Minh Hà, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: tổ 17B, phố Đoàn Kết, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 10/10;Nghề nghiệp: Lao động tự do;Bố: Hoàng Đình T (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị V (đã chết);Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy;Vợ: Hoàng Thị L- sinh năm: 1970; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2013.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân:

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 55/2001/HSST ngày 11/4/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xử phạt Hoàng Đình C 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2004, thi hành xong án phí tháng 8/2001.

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/2007/HSST ngày 19/01/2007 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Bản án số 21/2007/HSPT ngày 10/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xử phạt Hoàng Đình C 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 11/2007, Thi hành xong án phí và tiền phạt ngày 06/6/2007.

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 309/2008/HSST ngày 22/12/2008 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Hoàng Đình C 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2013, thi hành xong án phí ngày 22/12/2008.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/11/2018 đến ngày 27/11/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang ở tại phường T, thành phố V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 21/11/2018 tại tổ 15, khu 6, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện Hoàng Đình C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng do C tự giác giao nộp 01 gói ni lon màu trắng bên trong có 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, C khai nhận là ma túy của C mục đích để bán. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo qui định. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Titel đã cũ kèm sim trong máy, số imei 354083094503800 và 01 xe mô tô nhãn hiệu ATILA màu đen, biển kiểm soát 19L5- 4232 đã qua sử dụng.

Ngày 22/11/2018 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Đình C tại tổ 17B, phố Đoàn Kết, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố V đã tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng là ma tuý đã thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 05/KLGĐ ngày 24/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất bột cục màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,143 gam, loại: Heroine”.

Hoàn trả lại 0,110gam chất bột, cục là mẫu vật còn lại sau khi đã giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma túy C tàng trữ nhằm mục đích để bán, C khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 21/11/2018 Hoàng Đình C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATILA màu đen, biển kiểm soát 19L5-4232 xuống khu vực cây xăng Hà Loan thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Tại đây C gặp và mua của một người đàn ông chỉ biết tên là Khánh 200.000đồng được 01 gói ni lon màu trắng bên trong có 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. Sau khi mua được ma túy trên đường về C đã tách một phần ra để sử dụng cho bản thân, phần ma túy còn lại gói vào như cũ cất vào túi áo đang mặc mục đích để bán thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông tên Khánh, C khai đã bán ma túy cho C nhưng do C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định đối tượng này để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ATILA màu đen, biển kiểm soát 19L5-4232. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe này là tài sản của chị Nguyễn Hương Giang- sinh năm 1982, trú tại tổ 6, phố Hồng Hà, phường T, thành phố V. Chị Giang đã cho C mượn để sử dụng và không biết việc C dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý và đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Giang ngày 04/01/2019.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Titel đã cũ kèm sim trong máy số imei 354083094503800 thu giữ của Hoàng Đình C, điện thoại C dùng làm liên lạc hàng ngày.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo, qua xác minh Cơ quan điều tra xác định: Hoàng Đình C vợ là Hoàng Thị L cùng sở hữu diện tích đất 60,74m2 tại thửa số 167, tờ bản đồ số 46, tại 17B, phố Đoàn Kết, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và tài sản trên đất là nhà xây cấp bốn.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-VT ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hoàng Đình C về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố không bổ sung hoặc thay đổi nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình C từ 26 tháng tù đến 27tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án .

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu itel đã cũ, IMEI: 354083094503800 của bị cáo C.

Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 05/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại 0,110gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định và 01 sim điện thoại

Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Hoàng Đình C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng; vật chứng vụ án và kết luận giám định...Do vậy, có đủ cơ sở để quy kết: Hồi 16 giờ 40 phút ngày 21/11/2018 tại tổ 15, khu 6, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hoàng Đình C có hành vi tàng trữ 0,143 gam Heroine nhằm mục đích để bán, thì bị Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi tàng trữ ma túy Heroine của bị cáo đã phạm vào tội “Mua trái phép chất ma túy” như kết luận và viện dẫn của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nội dung điều luật quy định:

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hội đồng xét xử đánh giá về tính chất, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết hành vi mua bán phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì bị cáo là người nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại tới chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Để có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này bị cáo đã bị tòa án đưa ra xét xử đến nay đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải.Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta .

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy khi bắt giữ bị cáo C có thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động, nhãn hiệu itel đã cũ, IMEI: 354083094503800 là tài sản riêng của bị cáo cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với người đàn ông tên Khánh, C khai đã bán ma túy cho C nhưng do C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định đối tượng này để điều tra làm rõ là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ATILA màu đen, biển kiểm soát 19L5-4232. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe này là tài sản của chị Nguyễn Hương Giang- sinh năm 1982, trú tại tổ 6, phố Hồng Hà, phường T, thành phố V. Chị Giang đã cho C mượn để sử dụng và không biết việc C dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý và đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Giang ngày 04/01/2019là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 05/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại 0,110gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định và 01 sim điện thoại

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[1] Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình C 24 ( hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. (Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2018 đến ngày 27/11/2018).

Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu itel đã cũ, IMEI: 354083094503800 của bị cáo C

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 05/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại 0,110gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định và 01 sim điện thoại.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố V).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Hoàng Đình C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ