vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 01 (một) năm tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Truong ha - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HS-ST
Ngày 27 - 02 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Kim - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2019. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2019/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Nguyễn Trƣờng H - Sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: Đường lộ mới, Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà Quách Tòng A; Vợ: Văn Trần Thảo L; Con: 01 người, sinh năm 2016; Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 19/10/2018 đến ngày 22/10/2018 chuyển tạm giam cho tới nay.

2. Họ và tên Nguyễn Duy T - Sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc C và bà Trương Loan P; Vợ: Nguyễn Thị Khả Á; Con: 01 người, sinh năm 2014; Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 19/10/2018 đến ngày 22/10/2018 chuyển tạm giam cho tới nay.

Các bị cáo bị giam có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 20 phút ngày 19/10/2018, lực lượng đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau phối hợp với Công

[1]

an tỉnh Cà Mau và Công an phường 5, thành phố Cà Mau bắt quả tang Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T có hành vi tàng trữ phép chất ma túy trên đoạn đường Phan Ngọc Hiển thuộc khóm 6, phường 5, thành phố Cà Mau.

Tang vật thu giữ gồm:

- Kiểm tra trong hộc phía trước bên trái xe moto 69K7-1063 phát hiện 02 bịch nilong bên trong có chứa tinh thể màu trắng đục dạng rắn và 5,5 viên nén màu xám đen (nghi là ma túy) đều được niêm phong trong một phong bì hình chữ nhựt, có ghi rõ họ tên và chữ ký của Nguyễn Duy T và Nguyễn Trường H, người chứng kiến là Phạm Ngân L, điều tra là Nguyễn Minh D và Trưởng Công an phường 5, thành phố Cà Mau là Nguyễn Văn T.

Ngoài ra, còn tạm giữ của Nguyễn Trường H: Tiền Việt Nam là 35.200.000 đồng; 01 xe moto biển số 69K7-1063; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu bạc (đã qua sử dụng) có sim số 0918.926.096; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng (đã qua sử dụng) có sim số 0916.591.769;

Tạm giữ của Nguyễn Duy T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng đen đã qua sử dụng có sim số 0915.804.814.

Tại Bản kết luận giám định số 514/KLGĐ-PC09 ngày 20/10/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:

Mẫu chất rắn màu trắng đục bên trong 02 bịch nilong được niêm phong trong phong bì ký hiệu M.62/2018 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,6020 gam loại Ketamine.

Mẫu 3,5 viên nén màu xám hình chữ nhật được niêm phong bên trong phong bì ký hiệu M.62/2018 giử giám định là ma túy, có khối lượng là 1,6420 gam, loại MDMA.

Mẫu 02 viên nén màu xám hình đầu lâu được niêm phong bên trong phong bì ký hiệu M.62/2018 giử giám định là ma túy, có khối lượng là 1,1353 gam, loại MDMA.

Hoàn lại toàn bộ mẫu vật và vỏ bao gói để trong phong bì niêm phong số 514/KLGĐ-PC09 (ký hiệu M.62/2018) và được hoàn trả trực tiếp cho Cơ quan trưng cầu giám định tại phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.

Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy vào lúc 03 giờ ngày 19/10/2018 đối với H và T có sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 18/10/2018, H và T cùng nhậu với 02 người bạn tên M và N và hai người bạn của M và N (không rõ họ tên), tại ngã tư đường Bùi Thị Trường - Trần Văn Thời thuộc phường 5, thành phố Cà Mau. Đến khoảng 00 giờ ngày 19/10/2018, H và T rủ M, N và hai người bạn của M và N đến quán bar Gossip thuộc khóm 6, phường 5, thành phố Cà Mau để nhậu tiếp thì cả nhóm đồng ý. Khi vào quán bar thì H rủT hùn tiền mua ma túy thì T đồng ý. Sau đó, Hà gặp một người thanh niên khoảng 25 tuổi (không biết tên và địa chỉ) để hỏi mua ma túy, một lúc sau có người thanh niên khác đến chổ H và T hỏi lấy gì, H nói lấy ma túy để sử dụng. Người này hỏi H lấy ma túy dạng khây hay thuốc lắc (kẹo), H kêu lấy 06 viên thuốc lắc và 02 bịch khây, người này ra giá mỗi viên là 300.000 đồng, tổng

[2]

06 viên và 02 bịch khây là 3.800.000 đồng, H đồng ý mua và kêu T hùn mỗi người 1.900.000 đồng; T đồng ý và đưa tiền cho H, H đưa tiền cho người thanh niên, sau khi nhận tiền người thanh niên bỏ đi. Khoảng 10 phút sau người thanh niên này quay lại để trên bàn H và T một bọc nilong trong đó có 06 viên thuốc lắc và 02 bịch khây. Sau khi mua ma túy H rủ T và nhóm bạn cùng bàn gồm M, N và 02 người bạn của M và N cùng sử dụng nhưng không ai sử dụng. Sau đó, H lấy 01 viên thuốc lắc rồi cắn ra làm hai phần, H và T sử dụng chung một phần, phần còn lại H và T bỏ chung 05 viên thuốc lắc và bịch khây còn lại H bỏ vào bịch nilong. H và T sử dụng được một lúc thì H rủ mọi người trong bàn nhậu đến Karaoke Gossip thuộc khóm 7, phường 5, thành phố Cà Mau nhậu và hát, tất cả đồng ý. Lúc này, T cầm bọc ma túy đưa cho H giữ, H đem cất giấu vào hộc xe phía trước bên trái của xe moto 69K7 - 1063 rồi cùng nhau đi hát được một lúc sau thì nghĩ về nhà. H chở T về nhà, khi đi đến khóm 6, phường 6, thành phố Cà Mau bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật là 5,5 viên thuốc lắc và 02 bịch khây.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 21/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại cho vợ của H là chị Văn Trần Thảo L gồm:

Tiền Việt Nam là 35.200.000 đồng; 01 xe moto biển số 69K7-1063 do bà Trần Hồng T đứng tên quyền sở hữu (mẹ vợ của Nguyễn Trường H); 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu bạc (đã qua sử dụng) có sim số 0918.926.096;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng đen đã qua sử dụng có sim số 0915.804.814 là tài sản riêng của vợ T, nên vào ngày 21/10/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho vợ T là chị Nguyễn Thị Khả Á.

Các tang vật còn lại:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng (đã qua sử dụng) có sim số 0916.591.769 là tài sản riêng của Nguyễn Trường H. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà mau đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Ngoài ra vật chứng còn lại lài số ma túy hoàn lại sau khi giám định được bảo quản để chờ xử lý.

Đối với M, N và 02 người bạn của M và N do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, không mời làm việc được. Nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với đối tượng nam thanh niên đã bán ma túy cho H và T, do không biết họ và tên địa chỉ cụ thể, không mời làm việc được. Nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 23/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phạt các bị cáo Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Căn cứ Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

[3]

Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng (đã qua sử dụng) có sim số 0916.591.769 là tài sản riêng của Nguyễn Trường H do tài sản không liên quan đến việt phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy được niêm phong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Qua xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản nhận tội, đối chiếu các vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo khai nhận vào khoảng 02 giờ 02 phút ngày 19/10/2018, tại khu vực thuộc khóm 6, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, 02 bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng với tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 514/KLGĐ-PC09, ngày 20/10/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:

Mẫu chất rắn màu trắng đục bên trong 02 bịch nilong, 3,5 viên nén màu xám hình chữ nhật; 02 viên nén màu xám hình đầu lâu được niêm phong trong phong bì ký hiệu M.62/2018 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 2,7773 gam loại MDMA và 0,6020 gam loại Ketamine.

Xét thấy các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận biết được ma túy là loại thuốc tân dược gây nghiện là chất cấm sử dụng nhưng các bị cáo vẫn lén lút mua ma túy về mục đích để sử dụng cho bản thân, xét hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất tân dược gây nghiện, không những gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ chung trong cộng đồng, bởi ma tuý được mệnh danh là cái chết trắng, ngoài ra nó còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gián tiếp tạo ra nhiều tệ nạn xã hội khác, do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử cần có một mức án thật nghiêm để nhằm răng đe, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt sau này.

Đối với bị cáo H đóng vai trò đề xướng, chủ động việc mua ma túy để cùng sử dụng với T, bị cáo tự liên hệ với người bán mua túy và giao nhận ma túy, nên vai trò bị cáo cao hơn so với bị cáo T.

Đối với bị cáo T khi nghe bị cáo H đề xuất cũng đồng ý không phản đối và hùn tiền mua ma túy cùng với bị cáo H, nên xét về vai trò bị cáo T thấp hơn sơ với bị cáo H.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo như tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và biết ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo H áp dụng theo tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều này do có cha, mẹ, bà nội tham gia kháng chiến được nhà nước phong tặng huy chương kháng chiến. Nên mức áp dụng hình phạt của bị cáo H được xem xét nhiều hơn bị cáo T, tuy nhiên bị cáo H có vai trò chủ động, đề xuất nên hình phạt chung cho 02 bị cáo là bằng nhau, phù hợp với quy định.

Đối với M, N và 02 người bạn của M, N do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, không mời làm việc được. Nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với đối tượng nam thanh niên đã bán ma túy cho H và T, do không biết họ và tên địa chỉ cụ thể, không mời làm việc được. Nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Về tang vật của vụ án:

Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng (đã qua sử dụng) có sim số 0916.591.769 là tài sản riêng của Nguyễn Trường H do tài sản không liên quan đến việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy được niêm phong, là chất độc hại cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H căn cứ thêm Khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường H và Nguyễn Duy T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường H 01 (một) năm tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm tù.

Căn cứ: Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng (đã qua sử dụng) có sim số 0916.591.769.

Tich thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu vật, sau khi trích giám định và lưu số 514/KLGĐ - PC09, ngày 20/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.

(Tất cả tang vật do Chị cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý).

Án phí sơ thẩm hình sự mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng chưa nộp.

[5]

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

- Bị cáo;

- VKSND Tỉnh, Thành phố Cà Mau;

- CAND Thành phố Cà Mau;

- TAND Tỉnh Cà Mau;

- Nhà tạm giữ

Đã ký

- Lưu hồ sơ;

Nguyễn Thị Thắm- Lưu án văn;

- Lưu VT (TM: TAND TPCM).

[6]

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T.PHỐ CÀ MAU-TỈNH CÀ MAU

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------------

----------------------------Số 32/QĐ-SCBSBA

TP.Cà Mau, ngày 01 tháng 4 năm 2019

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

Căn cứ các điều 260, 261 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do nhầm lẫn chính tả nên tại bản án số 28/2019/HSST ngày 27 tháng 2 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau. Đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Nguyễn Trƣờng Hà - Sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú: Đường lộ mới, Khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm 4, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Sơn (chết) và bà Quách Tòng Anh; Vợ: Văn Trần Thảo Linh; Con: 01 người, sinh năm 2016; Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 19/10/2018 đến ngày 22/10/2018 chuyển tạm giam cho tới nay.

2. Họ và tên Nguyễn Duy Tân - Sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú: Ấp Chống Mỹ A, xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm 4, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc Chinh và bà Trương Loan Phụng; Vợ: Nguyễn Thị Khả Ái; Con: 01 người, sinh năm 2014; Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 19/10/2018 đến ngày 22/10/2018 chuyển tạm giam cho tới nay.

Sửa chữa, bổ sung Bản án số 28/2019/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau như sau:

Tại dòng thứ 08, trang 05 từ dưới đếm lên đã ghi:

“Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Tân 01 (một) năm tù.

Căn cứ: Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.”

Nay sửa chữa, bổ sung như sau:

“Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Tân 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/10/2018. (áp dụng cho hai bị cáo)

[7]

Căn cứ: Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.”

Các phần khác giữ nguyên.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ