- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2019/HS-ST Ngày: 05 - 3 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Năm.
2/ Ông Nguyễn Thanh Tú Em.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 34/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Bùi Quốc S; giới tính: Nam; S năm: 1981; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không xác định; chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông Bùi H và bà Hà Thị T1.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 23/9/1998, bị Tòa án nhân dân Quận M, xét xử về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng. Chấp hành xong bản án ngày 23/9/2000.
Ngày 06/8/2013, Chủ tịch UBND Quận T quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng kể từ ngày 26/7/2013. Đến ngày 26/7/2015 áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy 24 tháng.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 01/11/2018 cho đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 01/11/2018, tại trước hẻm 475 Đường V, Phường 12, Quận T tổ tuần tra Công an Phường 12, Quận T nghi vấn Bùi Quốc S có liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra Công an phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của S có 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (S khai là ma túy để sử dụng), tạm giữ của S 01 điện thoại di động hiệu Nokia.
Theo bản Kết luận giám định số 1787/KLGĐ-H ngày 09/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Quốc S và hình dấu Công an Phường 12, Quận T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2086g, loại Heroine.
Bùi Quốc S khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý nên thường mua ma tuý về sử dụng. Vào khoảng 11 giờ ngày 01/11/2018, S đi bộ đến khu vực ngã tư Quốc tế (đường B cắt đường Th , Phường MB, Quận T) gặp và mua của một người phụ nữ lạ mặt không rõ lai lịch 01 gói nylon chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đầu hẻm 475 Đường V, Phường 12, Quận T thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang như trên.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 357342084290621, màu xanh, có gắn sim số 0913060421 thu giữ của S. S sử dụng vào việc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 07/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Bùi Quốc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về vật chứng vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong chứa ma túy.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, khoảng 12 giờ ngày 01/11/2018, tại trước hẻm 475 Đường V, Phường 12, Quận T, Công an phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Bùi Quốc S có 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2086g, loại Heroine để sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, hành vi của bị cáo không có thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra Công an Quận T không có căn cứ để xử lý nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án:
01 gói niêm phong chứa ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Quốc S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2018.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1787/18 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Bùi Quốc S, Nguyễn Ngọc Tiền, hình dấu Công an Phường 12, Quận T và chữ ký Giám định viên Trần Đình Hải.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 357342084290621, màu xanh có gắn sim số 0913060421.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 06/PNK ngày 26/11/2018 của Cơ quan Công an Quận T).
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận T; (2) - Chi cục THADS Quận T; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - Cơ quan điều tra Công an Quận T (Đội ĐTTH); (1) - Nhà tạm giữ Quận T; (1) - Thi hành án hình sự; (3) - Bị cáo; (1) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (15) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |