vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 31/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn L (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lù Văn L 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 26/02/2019). Về vật chứng vụ án:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Vưn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn L (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HS-ST
Ngày 31/7/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hiến.

2. Ông Quàng Ngọc Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sóng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh ĐB.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh ĐB, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lù Văn L (tên gọi khác: Không); sinh năm 1988; nơi sinh: huyện Đ, tỉnh ĐB; nơi cư trú: Bản P, xã L huyện Đ, tỉnh ĐB; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lù Văn T sinh năm 1950 và bà Lù Thị M sinh năm 1952; có vợ là Lò Thị X sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2011); bị cáo có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2019 đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 26/02/2019, Lù Văn L gọi điện thoại di động cho một người tên Dở xã Háng Lìa, huyện Đ, tỉnh ĐB để hỏi mua ma túy để sử dựng, D đồng ý và hẹn gặp nhau ở ngã ba đường rẽ lên bản Háng Lìa, xã Háng Lìa, huyện Điện Biên Đông để trao đổi mua bán ma túy; gọi điện thoại xong L một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen biển kiểm soát 27-V1 026.43 từ nhà ở bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh ĐB mang theo số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) đến địa điểm đã hẹn mua được của D 02 cục ma túy gói trong nilon màu trắng với số tiền là 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) cho vào túi áo rồi điều khiển xe máy quay về nhà, đến khu vục bản Giói A, xã L, huyện Điện Biên Đông thì bị tổ công tác công an xã L, huyện Điện Biên Đông đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng, mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang để tiếp tục điều tra làm rõ (BL 01).

Cùng ngày tại Công an huyện Đ, tỉnh ĐB đã mở niêm phong xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Lù Văn L có khối lượng là 6,89gam và trích 0,59gam gửi giám định (BL 26).

Tại bản kết luận giám định số: 307/GĐ-PC09 ngày 07/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn L gửi giám định là chất ma túy loại heroin (BL 33).

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-ĐBĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh ĐB truy tố bị cáo Lù Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lù Văn L cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lù Văn L từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về vật chứng vụ án áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi phạm tội:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lù Văn L thừa nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 26/02/2019, Lù Văn L gọi điện thoại di động người đàn ông tên Dở xã Háng Lìa, huyện Đ, tỉnh ĐB để trao đổi mua ma túy để sử dụng hai người hẹn gặp nhau ở ngã ba đường rẽ lên bản Háng Lìa, xã Háng Lìa, huyện Điện Biên tại đây L đã mua được của D01 gói heroin khối lượng 6,89gam với số tiền là 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) trên đường về nhà đến khu vục bản Giói A, xã L, huyện Điện Biên Đông thì bị tổ công tác công an xã L, huyện Điện Biên Đông đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Mục đích của bị cáo mua heroin về sử dụng cho bản thân. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi mua 6,89gam heroin để sử dụng của Lù Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;"

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tuy hành vi chỉ mang tính chất giản đơn nhưng rất nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy từ lâu. Năm 2012 bị TAND huyện Điện Biên Đông xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến năm 2013 Lù Văn L chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, Lù Văn L cũng đã thực hiện nghĩa vụ nộp án phí đầy đủ và các quyết định khác của bán án. Như vậy theo quy định tại khoản 2 điều 70 Bộ luật hình sự Lù Văn L đã được xóa án tích. Trở về địa phương bị cáo không ăn năn hối cải tái nghiện ma túy. Đến ngày 26/2/2019 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố của bị cáo là ông Lù Văn Tủa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhất năm 2001. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục cũng như để cai nghiện cho bị cáo sau này trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung:

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nương, là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, khó có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng vụ án:

- Gồm 6,89 gam heroin, đã giám định hết 0,59gam, còn lại 6,30 gam là chất thuộc Nhà nước cấm lưu hành, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX biển số 27V1-026.43 tên chủ xe Lù Văn L số khung RLHJC5211CY407023 số máy JC52E-4220762 bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu VERTU có IMEL1:353764032520235, IMEL 2: 353764032520243 bị cáo dùng làm công cụ để thực hiện hành vi phạm tội; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

.Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số đang cư trú tại xã L, huyện Điện Biên Đông nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

.Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án.

Đối với người đàn ông dân tộc H’Mông tên là Dtheo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được nên chưa đề cập xử lý trong vụ án này, HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn L (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lù Văn L 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 26/02/2019).

2. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu và tiêu hủy 6,89gam heroin, đã giám định hết 0,59gam, còn lại 6,30 gam heroin;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX biển số 27V1-026.43 tên chủ xe Lù Văn L số khung RLHJC5211CY407023 số máy JC52E-4220762;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VERTU có IMEL1:353764032520235, IMEL 2: 353764032520243;

Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 25 phút ngày 13/6/2019 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.

3. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn L.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/7/2019).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ