- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2019/HS-ST Ngày: 29/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Phạm Văn Tần; Cao Văn Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân – Thư ký TAND huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Chúc; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/9/1998, tại: Xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Y, xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Nh – Sinh năm: 1970; con bà: Nguyễn Thị M – Sinh năm: 1971; Vợ: Nguyễn Thị D – Sinh năm: 2001; có 1 con trai sinh năm: 2019; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/5/2019, tạm giam từ ngày 10/5/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa – có mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Nh – Trú tại: Thôn Y, xã C, huyện T, Thanh Hóa – vắng mặt; Trương Thị L – Trú tại: Thôn S, xã L, huyện B, Thanh Hóa – vắng mặt
Người chứng kiến: Đặng Văn H – Trú tại: ThônY, xã P, huyện C, Thanh Hóa – vắng mặt; Nguyễn Quang T – Trú tại: Thôn H, xã P, huyện C, Thanh Hóa – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 04/5/2019, Nguyễn Văn Ch đi từ nhà đến huyện C để mua ma túy về sử dụng. Khi sang đến khu vực gần trường cấp 2 xã P, huyện C, Ch gặp một người phụ nữ (Không rõ tên tuổi, địa chỉ) và hỏi mua ma túy với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Người phụ nữ này cầm tiền và lấy trong người ra 02 (Hai) gói ma túy (Heroine) đưa cho Ch. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Văn Ch quay về nhà ở huyện T theo đường tỉnh lộ 519 thì bị lực lượng công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do lo sợ Chúc đã ném 02 (Hai) gói ma túy xuống đường để phi tang nhưng vẫn bị phát hiện và thu giữ. Tổ Công tác đã đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở cơ quan Công an để tiếp tục điều tra theo quy định
Tang vật thu giữ gồm:
- 02 (Hai) gói giấy màu trắng bên trong chứa chất màu trắng ngà dạng cục vụn (Nghi là Heroine);
- 01 (Một) xe moto nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng đen BKS 36G5-089.20, xe đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 1173/PC09 ngày 07/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất màu trắng ngà dạng cục vụn gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,217g (Không phẩy hai một bảy gam) loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSCT-MT, ngày 22/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 điều 249 – BLHS năm 2015.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Ch ngày 04/5/2019, do không đủ cơ sở để xác định đối tượng này và không đủ căn cứ để mở rộng điều tra vụ án nên tách ra tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý trong vụ việc khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố là đúng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, tang vật thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 47 – BLHS; điều 106 – BLTTHS; khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016, của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch mức án từ 18-24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2019.
Về tang vật của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy đã niêm phong qua giám định có khối lượng 0,217g loại heroine.
Đối với chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của ông Nguyễn Văn Nh, bị cáo mượn xe để đi công việc riêng, ông Nhặt không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Ch. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho ông Nh, nên không xem xét.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi tàng trữ, sử dụng ma túy của bị cáo là sai. Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 04/5/2019, tại thôn H, xã P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn Ch đã có hành vi tàng trữ 0,217g (Không phẩy hai một bảy gam) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 249 – BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các nguyên tắc quản lý, sử dụng chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 – BLHS.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, lên với bị cáo mức án khoảng 18 tháng tù là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thuộc người dân tộc thiểu số, không có công ăn việc làm, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án: Một phong bì ma túy có khối lượng 0,217g loại heroine, qua giám định còn 0,178g, nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 47 – BLHS; điều 106; điều 135 – BLTTHS; khoản 1 điều 6; khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016, của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2019 .
Về tang vật của vụ án: Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy qua giám định, loại heroine đã niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T, Bùi Quang Th và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;
Tang vật trên hiện đang lưu kho tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo Biên bản giao nhận tang vật ngày 22/7/2019
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện C; - Phòng KTNV & THA - TAND tỉnh Thanh Hóa; - P7 - VSKND Tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện C; - Trại tạm giam Công an Thanh Hóa; - Chi cục THA dân sự huyện C; - Các cơ quan hữu quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa VŨ THỊ DUNG |