vanban.org

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Như Q.

Về con chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Huỳnh Như Q không có con chung. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H khai bà và ông Huỳnh Như Q không có tài sản chung nên HĐXX không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ sơ vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Lê Thị Thu H và bị đơn ông Huỳnh Như Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Như Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2019/HNGĐ-ST
Ngày 14/8/2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Huy Toàn

Bà Lê Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 125/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2019/HPT-ST ngày 29 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Thôn N, xã NT, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

2. ị đơn: Ông Huỳnh Nhƣ Q, sinh năm: 1997

Địa chỉ: Thôn P, xã NP, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2019 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Huỳnh Như Q kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã NP, thị xã N. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn xuất phát từ vấn đề kinh tế gia đình, thường xuyên xảy ra tranh cãi do ông Q có hành vi xúc phạm danh dự bà và gia đình. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không thành và ngày càng trầm trọng không hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế bà và ông Q không còn sống chung từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Như Q. Về con chung, bà H khai bà và ông Q không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung bà H khai không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Huỳnh Như Q: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và niêm yết hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Q cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn ông Huỳnh Như Q đã được Tòa án triệu tập, xác minh, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình trốn tránh không có mặt tại tòa để làm việc nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Q là đúng theo quy định của pháp luật.

Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.

Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thu H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Huỳnh Như Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết tại địa phương và nơi cư trú, do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với qui định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H và ông Huỳnh Như Q tự nguyện kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NP, thị xã N và đã được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 03/11/2017. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Q là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến tranh cãi. Mâu thuẫn của hai vợ chồng bà H, ông Q đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được và ngày càng trầm trọng hơn. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ những bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng làm rạn nứt tình cảm, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn và đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, thực tế hai ông bà cũng không còn sống chung từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Vì vậy, có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thu H đối với ông Huỳnh Như Q.

Về con chung: Bà Lê Thị Thu H khai giữa bà và ông Huỳnh Như Q không có con chung.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H khai bà và ông Huỳnh Như Q không có tài sản chung nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Thu H khai bà và ông Huỳnh Như Q không có nợ chung nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Như Q.

2. Về con chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Huỳnh Như Q không có con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H khai bà và ông Huỳnh Như Q không có tài sản chung nên HĐXX không xét.

4. Về nợ chung: Bà Lê Thị Thu H khai bà và ông Huỳnh Như Q không có nợ chung nên HĐXX không xét.

5. Về án phí: Bà Lê Thị Thu H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số AA/2018/0006388 ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Như vậy bà Lê Thị Thu H đã nộp đủ án phí.

Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ông Huỳnh Như Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ