- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh N tranh chấp ly hôn, nuôi con với Phan Thị Hương T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 28/2019/HNGĐ-ST Ngày 23-4-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Hồng Nga;
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1213/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2019/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1978; thƣờng trú: 71/3, đƣờng ĐT743, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; tạm trú: Nhà ở tập thể Công ty cổ phần Gỗ MDF ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phƣớc. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Phan Thị Hƣơng T, sinh năm 1983; thƣờng trú: 71/3, đƣờng ĐT743, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Công T1, sinh năm 1989; thƣờng trú: 49 Nguyễn Trƣờng Tộ, khu phố 2, phƣờng T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: T2.19.17 chung cƣ M.one 35/12 B, phƣờng T, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh N và chị Phan Thị Hƣơng T tự nguyện tìm hiểu khoảng 06 tháng thì tiến đến hôn nhân năm 2006, có tổ chức lễ cƣới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (nay là phƣờng D, thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 278/2006, quyển số 03 ngày 13/11/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ 71/3, đƣờng ĐT743, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con. Chị T không biết cách chăm sóc con, phó mặc cho bà ngoại, không quan tâm tới gia đình bên chồng, không chăm lo cho anh N và nghi ngờ sự chung thủy của anh. Khi vợ chồng cãi nhau chị T đã từng đòi ly hôn và đuổi anh N ra khỏi nhà. Năm 2018 anh N đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị T, vì nghĩ các con còn nhỏ nên anh N đã bỏ qua và rút đơn nhƣng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn tình cảm để quay về sống chung, vì chị T không sửa đổi. Nay anh N xác định không còn tình cảm với chị T, không thể tiếp tục kéo dài hôn nhân giữa hai ngƣời nên yêu cầu đƣợc ly hôn với chị Phan Thị Hƣơng T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 ngƣời con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh P, sinh ngày 23/10/2007 và Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 20/12/2011, hiện tại đang sống chung với mẹ. Khi ly hôn anh N yêu cầu giao hai ngƣời con chung cho chị Phan Thị Hƣơng T đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng và anh tự nguyện cấp dƣỡng nuôi mỗi ngƣời con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Lời khai của bị đơn - chị Phan Thị Hương T trình bày:
Thống nhất trình bày của nguyên đơn về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, thời gian chung sống; không thống nhất toàn bộ nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Bị đơn xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra một số mâu thuẫn nhƣ: Bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, nguyên đơn là ngƣời nắm giữ kinh tế của gia đình, mỗi khi có lƣơng chỉ đƣa về một phần cho bị đơn, một phần giữ lại gửi về cho cha mẹ ruột nhƣng không nói với vợ, vì vậy vợ chồng xảy ra cãi vã. Vào năm 2017 bị đơn còn phát hiện nguyên đơn ngoại tình. Bị đơn đã cố gắng bỏ qua để mong nguyên đơn thay đổi quay về nguyên đơn không sửa đổi. Anh N đã từng nộp đơn yêu cầu ly hôn với chị T và rút đơn lại. Tuy nhiên từ đó đến nay vợ chồng vẫn không hàn gắn tình cảm, quay về sống đoàn tụ hạnh phúc đƣợc. Bị đơn cho rằng mình đã làm tròn trách nhiệm của ngƣời vợ, ngƣời mẹ trong gia đình, nay nguyên đơn vì có ngƣời phụ nữ khác mà yêu cầu ly hôn thì bị đơn không đồng ý.
Về con chung: Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về việc vợ chồng có hai ngƣời con chung, hiện đang sống với mẹ. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì bị đơn đồng ý trực tiếp nuôi dƣỡng 02 ngƣời con chung và nguyên đơn cấp dƣỡng nuôi mỗi ngƣời con 3.000.000 đồng/tháng, thực hiện đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Lời khai người làm chứng – anh Nguyễn Công T1 trình bày:
Anh T1 là em ruột của nguyên đơn, mặc dù anh không sống với vợ chồng nguyên đơn, tuy nhiên mấy năm trƣớc thỉnh thoảng anh có xuống nhà vợ chồng nguyên đơn chơi thì thấy cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng không hạnh phúc. Vào dịp tết năm 2017 tại nhà cha mẹ anh T1 hai vợ chồng anh N đã cãi nhau rất lớn, sau đó anh N đã dọn ra sống riêng tại nhà tập thể của công ty cho đến nay.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đƣơng sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngƣời làm chứng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng do có đơn yêu cầu vắng mặt căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Ngƣời làm chứng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng.
Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Thanh N và chị Phan Thị Hƣơng T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D (nay là phƣờng D, thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 278/2006, quyển số 03 ngày 13/11/2006 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét mâu thuẫn của vợ chồng nguyên đơn thấy rằng: Nguyên đơn xác định quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, kéo dài từ năm 2007 đến nay. Bị đơn thừa nhận vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, do vấn đề kinh tế; mặt khác đến năm 2017 bị đơn phát hiện nguyên đơn có ngoại tình với phụ nữ khác thể hiện qua những hình ảnh lƣu lại trên điện thoại của nguyên đơn mà bị đơn đã cung cấp cho Tòa án. Bị đơn đã khuyên nhủ nhiều lần và cố gắng bỏ qua để vợ chồng cùng chung sống chăm lo cho con nhƣng nguyên đơn không sửa đổi. Năm 2018 nguyên đơn đã từng nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn, sau đó rút đơn nhƣng từ đó đến nay vợ chồng vẫn không thể hàn gắn tình cảm sống đoàn tụ đƣợc. Tại phiên tòa chị T xác định nếu hôn nhân của vợ chồng chị tiếp tục kéo dài vẫn không có hạnh phúc vì nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn và không chịu về sống chung với bị đơn; mặc dù vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn quan hệ tình cảm với nhau. Tuy nhiên bị đơn vẫn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn.
Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải tôn trọng, thƣơng yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Mặc dù nguyên đơn và bị đơn không thống nhất toàn bộ nguyên nhân mâu thuẫn nhƣng cả hai đều thừa nhận quá trình vợ chồng sống chung có xảy ra mâu thuẫn, chính bị đơn cũng thừa nhận vợ chồng đã cố gắng nói chuyện nhiều lần nhƣng vẫn không thể hòa giải đƣợc. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng nguyên đơn không thể sống hòa hợp, do cả hai biết cảm thông cho nhau ngay cả những chuyện nhỏ nhất xảy ra trong cuộc sống gia đình nên không thể tha thứ, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, làm cho nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn. Do đó việc tiếp tục kéo dài hôn nhân của vợ chồng nguyên đơn thì mục đích hôn nhân cũng không đạt đƣợc. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Tòa án chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng nguyên đơn có hai ngƣời con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh P, sinh ngày 23/10/2007 và Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 20/12/2011. Nguyên đơn yêu cầu giao hai ngƣời con cho bị đơn trực tiếp nuôi dƣỡng; đồng thời nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi mỗi ngƣời con 3.000.000 đồng/tháng. Yêu cầu của nguyên đơn đƣợc bị đơn thống nhất. Xét về điều kiện chỗ ở và khả năng chăm sóc con chung của nguyên đơn và bị đơn thấy rằng: Bị đơn có nhiều thời gian chăm sóc, đƣa rƣớc con đi học; còn nguyên đơn làm bên lĩnh vực cơ khí, đang đƣợc điều động làm việc tại chi nhánh của công ty thuộc tỉnh Bình Phƣớc và ở nhà tập thể của công ty nên không thuận tiện chăm sóc các con. Hiện tại các con chung đang sống với bị đơn và đƣợc chăm sóc tốt. Do đó để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung cần giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh P và Nguyễn Ngọc Khánh V cho bị đơn trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với quy định tại Điều 80 và 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc cấp dƣỡng nuôi mỗi ngƣời con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N.
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh N đƣợc ly hôn với chị Phan Thị Hƣơng T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 278/2006, quyển số 03 do UBND thị trấn D, huyện D (nay là phƣờng D, thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 13/11/2006).
Về con chung: Anh Nguyễn Thanh N giao hai ngƣời con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh P, sinh ngày 23/10/2007 và Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 20/12/2011 cho chị Phan Thị Hƣơng T tiếp tục nuôi dƣỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Thanh N về việc cấp dƣỡng nuôi hai ngƣời con chung, mỗi ngƣời con 3.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau ly hôn, anh Nguyễn Thanh N và chị Phan Thị Hƣơng T có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn Thanh N lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Phan Thị Hƣơng T nuôi con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh N theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Thanh N và chị Phan Thị Hƣơng T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh N phải chịu 600.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con; đƣợc khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0027752 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Nguyễn Thanh N phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí.
3. Nguyên đơn và bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - VKSND thị xã D (1); - Chi cục THADS thị xã D (1); - UBND phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng (1); - Lƣu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngà |