vanban.org

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Hoàng Văn Đ được ly hôn với chị Hg Thị H. 2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Bảo T cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hg Thị H không phải cấp dưỡng …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? 1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:28/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19-6-2019
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Kim Dung;

2- Ông Hoàng Văn Công.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2019/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn Đ 30 tuổi

Địa chỉ: Thôn 1 xã T- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, có mặt.

Bị đơn: Chị Hg Thị H 32 tuổi

Địa chỉ: Thôn 1 xã T- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 17-4-2019 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Hoàng Văn Đ trình bày: Anh và chị Hg Thị H kết hôn tháng 6 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn lại tại UBND xã C- huyện V- tỉnh L. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2018 chị H tự ý bỏ đi sau đó bỏ đi làm ăn, không liên lạc cũng không gửi tiền về nuôi con mà chỉ liên lạc về bên ngoại. Anh và gia đình đã tìm mọi biện pháp liên hệ, khuyên bảo chị H quay về nhưng chị H tuyên bố không về nữa và hiện đang sống chung cùng người khác. Hai người đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Anh và chị H có một cháu là Hoàng Bảo T sinh ngày 23-01-2015 hiện đang ở với bố; khi ly hôn anh sẽ nuôi cháu và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung anh xác định không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Hg Thị H vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tinh cảm: Anh Hoàng Văn Đ và chị Hg Thị H kết hôn năm 2017, việc

̀ kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong những năm qua vợ chồng anh Đ- chị H không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau; thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Chị H đi làm ăn nhưng không quan tâm đến gia đình, chồng con. Hai người cũng đã có thờ i gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết anh Đ khẳng đình tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Đ- chị H đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đ có căn cứ chấp nhận.

[2] Về con chung: Anh Đ và chị H có một cháu là Hoàng Bảo T sinh ngày 23-01-2015 hiện đang ở với bố. Qúa trình giải quyết vụ án anh Đ đề nghị được nuôi cháu T và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế trong suốt thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu T thường xuyên ở với bố. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, cần giao cháu cho anh Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Do anh Đ không yêu cầu nên chị H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[3] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Đ xác định không có.

[4] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho anh Đ được ly hôn với chị H, giao cháu T cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng…

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Hoàng Văn Đ được ly hôn với chị Hg Thị H.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Bảo T cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hg Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi Tòa án; anh Hoàng Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân

́

́ sự sơ thẩm. Xác nhận anh Đ đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên- tỉnh Yên bái theo biên lai số AA/2017/0004387 ngày 17-4-2019.

4- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ