vanban.org

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn thị thăm- phan văn tuan- ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!V!
TỈNH!N!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản!án!số: 28/2019/HNGĐ - ST
Ngày 19/11/2019
(V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình)

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!N!

Với!thành!phần!hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Ông Hà!Thiện!Thành!

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh!Duy!Quyết!và ông Đinh!Công!Hiến

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi!Hồng!Mơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

§¹i!diÖn!ViÖn!kiÓm!s¸t!nh©n!d©n!huyÖn!V,!tØnh!N!tham!gia!phiªn!toµ:!Bµ! Hoàng!Thị!Thu!Lan!-!KiÓm!s¸t!viªn!

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2019/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/11/2019 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n:! Chị Đoàn! Thị! T,! sinh! n¨m! 1984;! địa! chỉ thôn V, xã G, huyện V, tỉnh N;!Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

BÞ ®¬n:!Anh!Phan!Văn!T,!sinh!n¨m!1981;!địa!chỉ thôn V, xã G, huyện V, tỉnh N; (Vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12 tháng 6 năm 2019, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đoàn Thị T trình bày: Giữa chị Đoàn Thị T và bị đơn là anh Phan Văn T, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 02 năm 2007, tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V. Sau khi kết hôn hai người chung sống cùng nhau tại thôn V, xã G, huyện V. Chị Đoàn Thị T và anh Phan Văn T chung sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng bốn năm thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh T không tu trí làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị T thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung chị Đoàn Thị T trình bày: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Phan Văn C, sinh ngày 20/03/2005. Nếu được Toà án chấp nhận cho ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn, chị không yêu cầu anh Phan Văn T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Chị Đoàn Thị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về phía bị đơn là anh Phan Văn T đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.

T¹i!phiªn!toµ! vÞ!®¹i!diÖn!ViÖn! kiÓm! s¸t!nh©n! d©n!huyÖn! V,!ph¸t!biÓu!ý! kiÕn!vÒ!viÖc!tu©n!theo!ph¸p!luËt!Tè!tông!d©n!sù!trong!qu¸!tr×nh!gi¶i!quyÕt!vô!¸n! cña!ThÈm!ph¸n,!Héi!®ång!xÐt!xö,!Thư!ký!phiên tòa;!viÖc!chÊp!hµnh!ph¸p!luËt! cña!ng­êi!tham!gia!tè!tông!d©n!sù,!kÓ!tõ!khi!thô!lý!vô!¸n!cho!®Õn!tr­íc!thêi!®iÓm! Héi!®ång!xÐt!xö!nghÞ!¸n!đều!tuân theo đúng!quy!định!của!pháp!luật!tố!tụng!dân! sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu! 147;!khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228!Bé!luËt! Tè!tông!D©n!sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị!quyết!số!326/2016/UBTVQH!14! ngày!30!tháng!12!năm!2016!của!Ủy!ban!thường!vụ!Quốc!Hội.!

- Xử: Cho chị Đoàn Thị T và anh!Phan Văn T được ly hôn;

- Về con chung.!Giao cho chị Đoàn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phan Văn C, sinh ngày 20/03/2005. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 20/11/2019 cho tới khi cháu Phan Văn C đủ 18 tuổi, nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Đoàn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]!Về!thủ!tục!tố!tụng:!Chị Đoàn Thị T!có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn T; anh Phan Văn T có nơi cư trú tại thôn V, xã G, huyện V, tỉnh N, đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn chị Đoàn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Văn T đã được Toà án nhân dân huyện Gia Viễn triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án:

[2]!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!Quan hệ hôn nhân giữa chị Đoàn Thị T và anh Phan Văn T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện V vào ngày 28/02/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người sống hoà thuận hạnh phúc trong khoảng thời gian được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh T thường xuyên tụ tập bạn bè chơi bời, không quan tâm đến vợ con, khi được chị T và gia đình khuyên bảo nhưng anh T không nghe, dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, đánh nhau. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Điều này phù hợp với đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 20/06/2019 do chị T giao nộp cho Tòa án, có xác nhận của chi hội phụ nữ, trưởng thôn V và UBND xã G. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện V đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh Phan Văn T cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không còn thiện chí để tìm cách đoàn tụ vợ chồng, chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đoàn Thị T.

[3]!Về!quan!hệ!con!chung: Chị Đoàn Thị T và anh Phan Văn T có một con chung là cháu Phan Văn C, sinh ngày 20/03/2005. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và chị không yêu cầu anh Phan Văn T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh T có một con chung đã trên bẩy tuổi, chị T là người lao động tự do, có thu nhập. Trong thời gian trước đây và hiện tại cháu Phan Văn C đều do chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm tốt về mọi mặt. Anh Phan Văn T không có lời khai, không có mặt tại phiên tòa, nên không có quan điểm của anh T về con chung. Quan điểm của chị T đưa ra là tự nguyện, không trái pháp luật, điều này phù hợp với nguyện vọng của cháu C. Vì vậy, cần giao con chung Phan Văn C cho chị Đoàn Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Phan Văn T cho chị Đoàn Thị T. Sau này nếu hai bên có tranh chấp về việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[4]!Về!quan!hệ!tài!sản!chung!và!công!nợ!chung:!Chị Đoàn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về! án! phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27! Nghị! quyết! số! 326/2016/UBTVQH!14!ngày!30!tháng!12!năm!2016!của!Ủy!ban!thường!vụ!Quốc! Hội. Chị Đoàn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

[6] Về! quyền! kháng! cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì!các!lẽ!trên,

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu!147;!khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228! Bé! luËt! Tè! tông! D©n! sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị! quyết! số! 326/2016/UBTVQH!14!ngày!30!tháng!12!năm!2016!của!Ủy!ban!thường!vụ!Quốc! Hội.!

Xử:!1.!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!!

Chị Đoàn Thị T và anh!Phan Văn T được ly hôn;

2.!Về!con!chung.!Giao cho chị Đoàn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phan Văn C, sinh ngày 20/03/2005. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 20/11/2019 cho tới khi cháu Phan Văn C đủ 18 tuổi, nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Phan Văn T cho chị Đoàn Thị T. Khi nào chị T có yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3.!Về!án!phí: Chị Đoàn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên lai số AA/2013/0001254 ngày 13/6/2019.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ