- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Như P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Như P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HS-ST Ngày 22 - 3 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhật Chiến
Bà Phùng Thị Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Đặng Như P, sinh ngày 09/12/1987 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân B, sinh năm 1954 (đã chết năm 2005) và bà Lý Thị M, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2017, tạm giam từ ngày 29/12/2017 đến nay, có mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1977. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ ngày 27/12/2017, tại khu vực P, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Đặng Như P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 xi lanh kim tiêm bằng nhựa bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu LAND-ROW cũ đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 49/KL-PC54 ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chấy bột màu trắng đựng trong xi lanh kim tiêm thu giữ của Đặng Như P là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,102 gam.
Tại bản cáo trạng số 33/KSĐT-MT ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, đã quyết định truy tố bị cáo Đặng Như P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Như P khai nhận: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2012, bị cáo thường sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm chích. Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 27/12/2017, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và đưa cho người thanh niên tên T (bị cáo không biết họ và địa chỉ) 50.000 đồng cùng nhau đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở bị cáo đến khu vực chợ P để mua ma túy. Đến nơi, T đi mua ma túy còn bị cáo đứng đợi. Sau khi mua được ma túy, T quay lại chở bị cáo đến khu nhà hoang (gần khách sạn Đ) thuộc khu vực P, phường H, thành phố L để cùng sử dụng ma túy. T đưa 01 gói ma túy và 01 xi lanh cho bị cáo và bảo bị cáo chờ T đi mua thêm xi lanh và nước cất. Khi T vừa đi khỏi thì bị cáo bị Công an phường Hoàng Văn Thụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra, người chứng kiến ông Nguyễn Trọng H khai: ngày 27/12/2017, ông đã được chứng kiến việc lực lượng Công an phường Hoàng Văn Thụ tiến hành kiểm tra đối với Đặng Như P. Qua kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của Đặng Như P có 01 xi lanh bên trong có chứa chất bột màu trắng. Đặng Như P khai nhận chất bột màu trắng có trong xi lanh là chất ma túy Heroine đang chuẩn bị sử dụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Như P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đặng Như P từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định, trả lại cho bị cáo Đặng Như P 01 điện thoại di động nhãn LAND-ROVER cũ đã qua sử dụng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của mình sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 27/12/2017, bị cáo Đặng Như P đã có hành vi tàng trữ 0,102 gam ma túy Heroine. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 quy định tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, nhưng tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" có khung hình phạt thấp hơn là từ 01 (một) năm đến 05 (năm) năm tù. Căn cứ khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là loại độc dược gây nghiện, rất có hại đối với sức khỏe con người, do Nhà nước độc quyền quản lý. Việc đấu tranh, phòng chống tệ nạn ma túy luôn là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội, chính vì vậy, mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Ngày 12/4/2013, bị cáo bị Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa tiền sự nhưng xét về nhân thân thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có. Tại phiên tòa, bị cáo khai có cha là Đặng Xuân B được tặng thưởng huân, huy chương nhưng bị cáo không xuất trình được chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét lời luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người tên T đã góp tiền đi mua ma túy với bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động hiệu LAND-ROVER màu xanh đen, số IMEI 356233520997476, máy cũ đã qua sử dụng thu của bị cáo Đặng Như P do không liên quan đến việc phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Như P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Như P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 27/12/2017.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đặng Như P.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo Đặng Như P 01 điện thoại di động hiệu LAND-ROVER màu xanh đen, số IMEI 356233520997476, máy cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/02/2018).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Như P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn; - Bị cáo, ….......; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thanh |