- Tranh chấp gì? án hình sự — "LỲ GIA PỨ - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? : Lỳ Gia P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HS-ST Ngày 06/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Phốn
2. Ông Trịnh Xuân Phùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên
tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2018 đối với.
Bị cáo Lỳ Gia P. Sinh năm 1955 tại xã Chung C, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Xã Chung C, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Húy T, xã Chung C, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hoá: Không; dân tộc Hà Nhì; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Bị cáo Lỳ Gia P không có bố, mẹ là Lỳ Pho P( đã chết); có chồng Sừng Gió C và 01 con (đã chết).
Tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 03 tháng 11 năm 2017, bị tạm giam từ ngày 06 tháng 11 năm 2017 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go Lòong – luật sư công tác viên trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên. Có mặt.
- Người phiên dịch: Anh Lỳ Lý Hùng .
Nơi cư trú: Tổ dân cư số 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 03 tháng 11 năm 2017 bị cáo Lỳ Gia P đi bộ từ nhà xuống bản Húy To 2, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé để tìm mua thuốc phiện về sử dụng. Bị cáo Lỳ Gia P có gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu, bị cáo Lỳ Gia P đã hỏi ông ta có thuốc phiện bán không thì ông ta bảo có. Bị cáo Lỳ Gia P đưa cho ông ta số tiền là 300.000 đồng, ông ta đưa cho bị cáo Lỳ Gia P 01 (một) gói nhỏ thuốc phiện, mua bán xong ông ta đi đâu không biết. Vào khoảng 17 giờ 20 phút trên đường về nhà đến cuối bản Húy To 2, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Ngày 05 tháng 11 năm 2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé, đã lập biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng vật chứng, thu được của bị cáo Lỳ Gia P trọng lượng 39,7 gam đồng thời lấy đi trọng lượng 10,75 gam làm m u vật gửi giám định chất ma túy. Số còn lại trọng lượng 28,95 gam.
Bản kết luận giám định số:127/ Đ – PC 54 ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: M u vật gửi đến giám định thu được của Lỳ Gia P là thuốc phiện. Số m u vật trọng lượng 10,75 gam gửi giám định không hoàn lại theo quy định của pháp luật. Tổng trọng lượng 39,7 gam là thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 06/CT – VKS ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo Lỳ Gia P về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
p dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lỳ Gia P từ: 12 đến 18 ( Mười tám) tháng t .
Không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
p dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng để tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lỳ Gia P không tranh luận gì, về nội dung bản luận tội, c ng như cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lỳ Gia P chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét mức thấp nhất cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.
Ông Pờ Go Lòong cho rằng bị cáo Lỳ Gia P thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Về tội danh tôi không có ý kiến gì. Tình tiết giảm nhẹ trong vụ án đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sư. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt cho bị cáo Lỳ Gia Pứ mức hình phạt 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi kiểm tra nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ xét thấy cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại hoặc ý kiến gì.
Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 03 tháng 11 năm 2017 tại khu vực bản Húy To 2, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé bị cáo Lỳ Gia P khi đang trên đường mang thuốc phiện về nhà để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng với khối lượng 39,7 gam thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 06/CT - VKS ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo Lỳ Gia P về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, có căn cứ nên cần áp dụng.
Ông Pờ Go Lòong cho rằng bị cáo Lỳ Gia P thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Về tội danh tôi không có ý kiến gì. Tình tiết giảm nhẹ trong vụ án đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sư. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt cho bị cáo Lỳ Gia P mức hình phạt tù 12 tháng là không phù hợp; Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ nên không áp dụng.
Xét hành vi của bị cáo Lỳ Gia P là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến ch nh sách độc quyền, quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại v ng sâu, v ng xa biên giới. Bị cáo Lỳ Gia P là người vợ trong gia đình, lẽ ra phải làm gương cho chồng, noi theo học tập nhưng đã không làm thế mà vi phạm pháp luật, phải đứng trước phiên tòa chịu sự phán xét.
Xét về nhân thân bị cáo Lỳ Gia P sinh ra và lớn lên xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không được đi học. Năm 1974 lấy chồng và làm ăn sinh sống ở địa phương. Bị cáo Lỳ Gia P có nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lỳ Gia P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lỳ Gia P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy cần phải cách ly bị cáo Lỳ Gia P ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo trở thành người có ch đồng thời c ng răn đe, phòng ngừa chung trong quần chúng nhân dân và những ai đang có ý định thực hiện hành vi như bị cáo bị pháp luật trừng trị nghiêm minh.
Tại phiên tòa, bị cáo Lỳ Gia P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn.
Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo Lỳ Gia P còn bị hình phạt bổ sung là phạt tiền; Hội đồng xét xử, xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán thuốc phiện cho bị cáo. Cơ quan điều tra không xác minh được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: p dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng 28,95 gam thuốc phiện theo quy định của pháp luật.
Về án ph : Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án ph , lệ ph Tòa án. Bị cáo Lỳ Gia P thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên được miễn án ph theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tu ên ố ị
: Lỳ Gia P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
p dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lỳ Gia P : 15 ( Mười lăm) tháng t . Thời hạn t t nh từ ngày bắt tạm giữ ngày 03 tháng 11 năm 2017.
2 .V
ậ h ng: p dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng 28,95 gam thuốc phiện đã niêm phong là vật chứng vụ án Lỳ Gia P.
Theo biên bản bàn giao giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Nhé ngày 10 tháng 01 năm 2018.
V n h : Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án ph , lệ ph Tòa án. Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
n xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo Lỳ Gia P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KT – NV và THA ( TA tỉnh); - VKSND tỉnh; - VKSND huyện Mường Nhé; - Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé; - Phòng HCTP Sở Tư pháp; - Bị cáo; Người bào chữa; - Chi Cục THADS huyện Mường Nhé; - UBND ( T/báo); - Lưu HS. Các thành viên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |