vanban.org

Bản án 28/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm U 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/8/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.1658 gam Heroine (số lượng còn lại sau giám định), 02 xi la… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HS-ST
Ngày: 31-10 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Tý.

2/ Ông Phạm Thế Chiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Lâm U, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1996, tại Thị xã buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 2, phường A, Thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Lâm S (đã chết), và con bà Võ Thị Mỹ H, sinh năm 1975.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1/ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1985.

Trú tại: Tổ dân phố Buôn Trấp, thị trấn Buôn Trấp, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

2/ Ông Trần Ngọc D, sinh năm 1971.

Trú tại: Xã, Ea Trul, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lâm U, trú tại: Tổ dân phố 2, phường A, Thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk là người nghiện ma túy, bỏ nhà lên Thành phố B, tỉnh Đắk Lăk làm thuê.

Khoảng 13 giờ ngày 27/8/2018 Nguyễn Lâm U đang đi trên đường AJ, phường T, Tp. B thì gặp một người tên là B (không xác định được nhân thân lai lịch) cùng là người nghiện ma túy, B rủ Nguyễn Lâm U góp tiền mua ma túy để sử dụng chung. Nguyễn Lâm U đồng ý và thống nhất mỗi người góp 100.000đ để mua ma túy, rồi cả hai đi bộ đến một con hẻm thuộc đường AJ, Tp. B thì gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) mua 200.000đ tiền Heroine. Khi mua được ma túy xong thì B rủ Nguyễn Lâm U đi vào nhà bạn ở huyện K chơi, uống rượu thì Nguyễn Lâm U đồng ý nên cả hai đón xe buýt đi huyện K. Khi đến trạm xe buýt thuộc Buôn E, xã EN, huyện K thì B và Nguyễn Lâm U xuống xe, ngồi đợi bạn của B ra chở đi. Trong lúc B và Nguyễn Lâm U đang ngồi đợi bạn thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt quả tang, thu giữ trên người của Nguyễn Lâm U 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chưa chất rắn màu trắng ( Uy khai đây là ma túy dạng Heroine), 02 xi lanh, ½ lưỡi dao lam và 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng, còn người tên B chạy thoát.

Tại bản kết luận giám định số: 761 ngày 31/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong một gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gữi gíam định là ma túy, có khối lượng 0.1970 gam, loại Heroine.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Lâm U khai nhận toàn bộ hành vi phạm như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận vào ngày 27/8/2018 bị cáo có cùng một người tên B góp tiền mua Heroine để sử dụng. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo và B đi huyện K chơi thì bị Công an huyện K bắt quả tang.

Cáo trạng số 33/KSĐT-HS ngày 05/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Lâm U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lâm U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm U từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.1658 gam Heroine (số lượng còn lại sau giám định), 02 xi lanh chưa qua sử dụng, ½ lưỡi lam, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Lâm U không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Lâm U tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 14h ngày 27/8/2018 tại khu vực Buôn Ea Na, huyện K, khi Nguyễn Lâm U đang tàng trữ trái phép 0.1970 gam Heroine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Lâm U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Lâm U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ khả năng nhận thức và buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật mà khi được người tên B rủ mua ma túy về sử dụng thì bị cáo Nguyễn Lâm U đã đồng ý và góp 100.000đ cùng B mua và tàng trữ 0.1970 gam Heroine là chất ma tuý để sử dụng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên, cần áp dụng hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời có tác dụng răng đe, phòng ngừa tội phạm chung.

.Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với người tên B là người mua ma túy với Nguyễn Lâm U và người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Lâm U. Quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.1658 gam Heroine (số lượng còn lại sau giám định), 02 xi lanh chưa qua sử dụng, ½ lưỡi lam, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, ngày 10/10/2018)

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lâm U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm U 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/8/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy 0.1658 gam Heroine (số lượng còn lại sau giám định), 02 xi lanh chưa qua sử dụng, ½ lưỡi lam, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, ngày 10/10/2018)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Lâm U phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ