vanban.org

Bản án 28/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị K.

Cho chị Hồ Thị Kiệm được ly hôn với anh Phan Tấn Đ. Về con chung: Giao cháu Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 và cháu Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014 cho chị Hồ Thị K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Phan Tấn Đ có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn tranh chấp quyền nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HNGĐ-ST
Ngày 09 - 8 - 2018
“Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Gẫm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Huynh; ông Trần Quốc Hào

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Chí Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 07 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị K, sinh năm 1983 (có mặt).

Nơi cư trú: số 227 Nguyễn Thị MK, khóm 1, phường 1, thành phố TV, tỉnh TV.

Bị đơn: Anh Phan Tấn Đ, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Nơi cư trú: số 32/24 khóm 5, phường 4, thành phố TV, tỉnh TV.

Con chung: Cháu Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cháu Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014.

Cùng nơi cư trú: số 227 Nguyễn Thị Minh Khai, khóm 1, phường 1, thành phố TV, tỉnh TV.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hồ Thị K trình bày: Chị và anh Phan Tấn Đ xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ, thành phố TV, tỉnh TV. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, nên chị K và anh Đ đã sống ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay. Nay, chị Hồ Thị K yêu cầu được ly hôn với anh với anh Phan Tấn Đ.

Về con chung: Chị Hồ Thị K và anh Phan Tấn Đ có 02 người con chung tên Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 và Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014 hiện đang do chị K nuôi dưỡng, nay chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phan Tấn Đ vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện tốt các qui định tại các Điều 28, 35, 39; 70, 71, 72, 73, 209, 210, 211, 220, 234, 239, 248, 249, 250, 258, 260, 261 của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi của chị Hồ Thị K. Cho chị K ly hôn với anh Đ; giao 02 con chung cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng; chị K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật của vụ án và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Phan Tấn Đ và yêu cầu được nuôi con chung, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” căn cứ vào khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Phan Tấn Đ có nơi cư trú số 32/24 khóm 5, phường 4, thành phố TV, tỉnh TV nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Hồ Thị K và anh Phan Tấn Đ xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ, thành phố TV, tỉnh TV là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình chung sống chị K và anh Đ sống chung hạnh phúc được một thời gian, chị Hồ Thị K và anh Phan Tấn Đ có 02 người con chung tên Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 và Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014 hiện đang do chị K nuôi dưỡng. Năm 2017 thì chị K và anh Đ phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên chị K và anh Đ đã ly thân nhau, trong suốt thời gian ly thân hai người bỏ mặc nhau, không quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị K yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có căn cứ.

Bị đơn anh Phan Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tự khai, tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên họp công khai chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ.

Về con chung: Chị Hồ Thị K và anh Phan Tấn Đ có 02 người con chung tên Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 và Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014 hiện đang do chị K nuôi dưỡng; các cháu vẫn khỏe mạnh, không bị nhược điểm về tâm thần, thể chất. Tại phiên tòa hôm nay chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu Phan Minh N có nguyện vọng được sống chung với chị K; cháu Phan Minh A sinh năm 2014 từ trước đến nay sống chung với chị K, được chị K nuôi dạy tốt. Mặc khác, chị K cũng có thu nhập ổn định, có điều kiện để nuôi dạy con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị K. Chị K không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: chị K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Chị Hồ Thị K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị K.

Cho chị Hồ Thị Kiệm được ly hôn với anh Phan Tấn Đ.

Về con chung: Giao cháu Phan Minh N, sinh ngày 04/4/2007 và cháu Phan Minh A, sinh ngày 20/01/2014 cho chị Hồ Thị K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Phan Tấn Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Hồ Thị K phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số: 0015611 ngày 12/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (chuyển thành án phí).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phan Tấn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi anh Đ cư trú.

Cỡ chữ