vanban.org

Bản án 28/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X, xử cho ông Nguyễn Văn X ly hôn bà Trƣơng Thị H (tên gọi khác Trƣơng Thị Hà).

Về án phí: Ông Nguyễn Văn X phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000645 ngày 11/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ. Về quyền kháng cáo: Nguyên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X, xử cho ông Nguyễn Văn X ly hôn bà Trƣơng Thị H (tên gọi khác Trƣơng Thị Hà).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HNGĐ-ST
Ngày 18/10/2018
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hợi và bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224a/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/10/2018 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ƣ, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Bà Trƣơng Thị H (tên gọi khác Trƣơng Thị H1), sinh năm 1973;

Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Ông X có mặt, bà H xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Trƣơng Thị H, còn có tên gọi khác là Trƣơng Thị Hà vào ngày 19/3/1992 trên cơ sở tự nguyện. Sau ngày cƣới, ông và bà H chung sống tại nhà riêng của ông ở thôn Đ, xã Ƣ, huyện N. Đến năm 1996, do ông vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành hình phạt tù, trong thời gian ông đi tù, bà H đã đƣa các con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Q, xã Đ, huyện T sống. Năm 2000, ông chấp hành xong hình phạt tù và đã đến đón mẹ con bà H về chung sống cùng ông nhƣng bà H kiên quyết không về. Từ đó đến nay, ông và bà H sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Ông thấy không còn tình cảm với bà H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông đƣợc ly hôn bà H.

Về quan hệ con chung: Ông và bà H có hai con chung là Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1993 và Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997, các con của ông bà đã lớn và có cuộc sống riêng nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông và bà H không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn bà Trƣơng Thị H trình bày về thời gian kết hôn giống nhƣ ông X trình bày. Còn nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách của vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng nên hay xảy ra cãi nhau. Trong thời gian ông X đi chấp hành hình phạt tù, bà đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở Q, Đ sống, sau khi ông X ra tù, bà thấy không còn tình cảm nên cũng không về sống cùng ông X. Từ đó đến nay, hai vợ chồng ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai, bà thấy cũng không còn tình cảm với ông X nên nhất trí ly hôn với ông X. Tuy nhiên, trong buổi hòa giải tại Tòa án, bà thay đổi quan điểm xác định không còn tình cảm với ông X nhƣng không nhất trí ly hôn vì trƣớc đây bà xin ly hôn, ông X đã gây khó khăn khiến bà không ly hôn đƣợc, nay bà cũng không muốn ông X đƣợc ly hôn dễ dàng.

Về con chung: Bà và ông X có hai con chung nhƣ ông X đã trình bày, các con bà đã trƣởng thành nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà và ông X không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, ông X vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn bà H, ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác, bà H vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn giải quyết vụ án, ông X và bà H không tự thỏa thuận đƣợc các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ đƣa vụ án ra xét xử. Việc xét xử tại phiên tòa thực hiện đúng trình tự luật định. Về hƣớng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi, xử cho ông X ly hôn bà H; buộc ông X phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là bà Trƣơng Thị H đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn X và bà Trƣơng Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Ƣ, huyện N vào ngày 19/3/1992 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, cả ông X và bà H đều khẳng định ông bà không còn tình cảm với nhau và đã ly thân nhau từ năm 2000 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nhƣng ông X xin ly hôn, bà H không nhất trí. Hội đồng xét xử thấy mặc dù bà H không đồng ý ly hôn nhƣng thực tế bà và ông X đã sống ly thân nhau gần 20 năm, không ai có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, cũng không còn tình cảm với nhau, việc bà H không đồng ý ly hôn chỉ nhằm gây khó khăn chứ không nhằm mục đích để vợ chồng về đoàn tụ. Nhƣ vậy, hôn nhân của ông X và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc nên căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông X, xử cho ông X đƣợc ly hôn bà H.

Về quan hệ con chung, tài sản chung: Cả ông X và bà H đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông X là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X, xử cho ông Nguyễn Văn X ly hôn bà Trƣơng Thị H (tên gọi khác Trƣơng Thị Hà).

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn X phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000645 ngày 11/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ