- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HNGĐ-ST Ngày: 11-4-2018 V/v trN chấp ly hôn, con chung |
NHÂN DN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bá
Bà Lê Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Yến– Thư ký Tòa án nhân nhân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018, về việc “TrN chấp ly hôn, con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXX-ST ngày 26 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Vân N, sinh năm 1981
Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã P, huyện V, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh Bùi Hoàng S, sinh năm 1986 “vắng mặt”.
Địa chỉ cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Người làm chứng: Ngô Thanh H, sinh năm 1965 “vắng mặt”.
Địa chỉ cư trú:ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 01 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Vân N trình bày: Chị và bị đơn anh Bùi Hoàng S kết hôn vào ngày 17/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 11/2016 N S bỏ đi theo người phụ nữ khác, từ đó đến nay không liên lạc với nhau nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau.
Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Bùi Hoàng T, sinh ngày 12/09/2014, hiện đang sống chung với chị. Tài sản chung, nợ chung chị xác định không có. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh S. Về con chung chị yêu cầu nuôi, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý đơn của chị Vân N, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải cho bị đơn nhưng phía bị đơn anh S không trả lời ý kiến bằng văn bản về nội dung khởi kiện của nguyên đơn và không đến tham gia phiên họp và hòa giải cho nên không tiến hành phiên họp và hòa giải được giữa các đương sự. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập các đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. bị đơn vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và trình tự, thủ tục xét xử của Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng: Điều 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử cho chị Cao Vân N được ly hôn với anh Bùi Hoàng S
Giao con chung là Bùi Hoàng T cho chị Cao Vân N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Bùi Hoàng S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Vân N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả trN luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Chị Cao Vân N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Bùi Hoàng S, địa chỉ ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T. Do đó Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
- Về người tham gia tố tụng:
Bị đơn anh Bùi Hoàng S được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng anh S vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai nên căn cứ khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những người làm chứng.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Cao Vân N và anh Bùi Hoàng S kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 17/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V theo giấy chứng nhân kết hôn số: 67, quyển số: 01/2013 và N chị kết hôn cũng đảm bảo các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, anh S bỏ đi theo người phụ nữ khác từ tháng 11/2016 đến nay, hiện chị Vân N không còn tình cảm với anh S. Từ đó, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vân N là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Vân N và anh S có 01 con chung là Bùi Hoàng T, sinh ngày 12/9/2014, hiện chị Vân N đang nuôi dưỡng. Xét từ khi vợ chồng không còn sống chung thì cháu T sống chung với chị Vân N, cuộc sống cũng đảm bảo. Anh S không có ý kiến yêu cầu nuôi con. Do đó, tiếp tục giao cháu T cho chị Vân N nuôi và anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Vân N là người được nuôi con nhưng không yêu cầu cấp dưỡng và hiện tại con chung cuộc sống cũng đảm bảo nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân N không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, sau này có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác nên miễn xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ so với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Vân N.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Vân N và anh Bùi Hoàng S.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Bùi Hoàng T, sinh ngày 12/9/2014 cho chị Cao Vân N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Bùi Hoàng S không phải cấp dưỡng nuôi con và anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Cao Vân N phải nộp 300.000đ (Ba tram ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Cao Vân N đã nộp theo biên lai thu số 0014375 ngày 18/1/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện T; - Thi hành án dân sự huyện T; - Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Cà Mau; (Giấy kết hôn số: 67, ngày 17/5/2013); - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Hồ Hoàng Phong |