vanban.org

Bản án 28/2018/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 27/06/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Lâm T về việc hủy bỏ di chúc của ông V Lâm K lập ngày 12 tháng Giêng năm 2003.

Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông V Lâm T như sau: Giao cho bà V Lâm Thị K được quyền quản lý, sử dụng 2.068,1m2 đất thuộc thửa số 32 tờ bản đồ số 16a xã P đã được ông V Lâm K định đoạt trong di chúc ngày 12 tháng Giêng năm 2003 theo Trích l c bản đ địa chính ngày 26/7/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Võ Lâm T - Võ Lâm Thị K"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Lâm T về việc hủy bỏ di chúc của ông V Lâm K lập ngày 12 tháng Giêng năm 2003.
  • Căn cứ chính? Điều 108 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH N NH THU N
Bản án số: 28/2018/DS-PT
Ngày 27-6-2018
V/v tranh ch p chia tài sản chung là
quyền s d ng đ t hia th a k
quyền s d ng đ t theo pháp lu t

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Th Trang

Các Thẩm phán:

Ông Nguy n Đức Thành

Bà Tr n Th B ch Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân d n t nh Ninh Th ận tham gia phiên toà:

Ông Nguy n Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 27 tháng 6 năm 2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2018/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “ hia tài sản chung là quyền s d ng đ t hia th a k quyền s d ng đ t theo pháp lu t”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2018/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện N bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2018/QĐPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông V âm T – Sinh năm 1970; Có mặt.

2. Bị đơn: Bà V Lâm Th

– Sinh năm 1956; Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Người c quyền l i, ngh a liên quan:

3.1. Bà V âm Th im – Sinh năm 1959; Có mặt.

3.2. Bà i u Th T – Sinh năm 1968; Vắng mặt.

3.3. Chị V âm Th T – Sinh năm 1988; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của à T, chị T: Ông V âm T – Sinh năm 1970 theo giấy ủy ngày 19/5/2016.

4. Người kháng cáo: Bà V Lâm Thị K là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Th o đ n h i i n và tại phi n t a nguy n đ n ông V âm T tr nh ày:

Cha ông là ông V Lâm K, sinh năm 1925 (chết ngày 03/8/2012 có để lại di chúc), mẹ ông là bà V Thị L, sinh năm 1923 (chết năm 1987). Cha mẹ ông có 03 người con, gồm: bà V Lâm Thị K, sinh năm 1956; bà V Lâm Thị Kim L, sinh năm 1959; ông V Lâm T, sinh năm 1970. Ngoài 03 người con trên thì cha mẹ ông không có con nuôi, con riêng. Về nguồn gốc các th a đ t s 667 tờ ản đ s 11

tương ng i th a s 196 tờ ản đ 299 , th a đ t s 09 tờ ản đ địa ch nh s 16a

tương ng i th a s 2 , 1 tờ ản đ 299) có nguồn gốc là do ông, bà nội tạo lập trước giải phóng để lại cho cha ông. n các th a đ t s 9a tờ ản đ s 16a P tương ng i th a s 76 tờ ản đ 299 , th a đ t s 223 tờ ản đ s 16 P tương ng i th a đ t s 77 tờ ản đ 299 có nguồn gốc là do hợp tác xã giao khoán cho hộ gia đình ông V Lâm K vào năm 1993. Thời điểm giao khoán hộ gia đình ông K có 04 người gồm cha ông là ông K là chủ hộ, ông, vợ ông tên Kiều Thị T và con gái V Lâm Thị T. Thời điểm này bà V Lâm Thị Kim L và bà V Lâm Thị K có chồng và có hộ riêng. Nay ông đề nghị Tòa án chia tài sản thuộc sở hữu chung là quyền sử dụng đất thửa đất số 9a tờ bản đồ số 16a xã P (tương ứng với thửa số 76 tờ bản đồ 299) và thửa số 223 tờ bản đồ số 16 xã P (tương ứng với thửa số 77 tờ bản đồ 299) và chia di sản thừa kế phần đất của ông V Lâm K trong khối tài sản chung này theo pháp luật. Hủy bỏ di chúc của ông V Lâm K lập ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) năm 2003, phân chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông V Lâm K để lại gồm: Thửa đất số 667 tờ bản đồ số 11 xã P (tương ứng với thửa số 196 bản đồ 299), thửa đất số 09 tờ bản đồ địa chính số 16a xã P (tương tứng với thửa số 23, 15 tờ bản đồ 299). Nguyện vọng của ông xin được nhận tài sản chung và kỷ phần thừa kế của cha ông b ng hiện vật. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

B đ n à V âm Th tr nh ày:

Cha bà là ông V Lâm K, sinh năm 1933 chết năm 2012. Mẹ bà tên V Thị L sinh năm nào bà không nhớ chết năm nào bà cũng không biết chỉ biết mẹ bà chết cách đây khoảng 30 năm. Khi còn sống cha mẹ bà sinh được 02 người con là bà V Lâm Thị K và em bà V Lâm Thị Kim L. Cha mẹ bà không có con nuôi nhưng có con riêng tên V Lâm T. Khi còn sống, cha bà có con riêng với mẹ ông T nhưng 02 người không sống chung nhà, sau khi mẹ ông T sinh ông T xong thì giao cho cha bà nuôi và không qua lại gì với cha bà nữa. Ông T sinh sống với cha bà từ nhỏ đến năm 1992 thì bỏ nhà đi không chung sống với cha bà cho đến ngày cha bà chết. Khi cha mẹ bà còn sống thì có một số tài sản sau: thửa đất 76 và 77 tờ bản đồ số 05 xã P có diện tích là 2.260m2 và 530m2. Diện tích đất này là của cha bà do ông bà nội để lại cho cha bà không phải đất nhận khoán. Sở dĩ cha bà nhận được nhiều đất là vì cha bà đã hiến rất nhiều đất cho hợp tác xã nên hợp tác xã ưu tiên để lại cho cha bà. Thời điểm giao khoán đất ruộng thì ông T đã có gia đình riêng vì vậy ông T đã được hợp tác xã cấp ruộng khoán riêng. Thửa đất số 23 15 và 196 t ản đồ 5 và 03 xã P có nguồn gốc là của ông bà nội để lại cho cha bà. Hiện tại trên 03 thửa đất này gồm có nhà ở, nhà thờ và mồ mả ông bà của bà. Ông K cha của bà đã để diện tích đất này cho bà và bà L theo di chúc ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) năm 2003. Hiện 03 thửa đất này do bà và em bà V Lâm Thị Kim L ở và quản lý, khi còn sống cha bà có giao cho bà L một số diện tích đất trong 03 thửa đất trên và bà L đã xây nhà và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Năm 1993, ông T tự ý đi làm GCNQSDĐ mang tên ông T toàn bộ diện tích đất ruộng và đất ở sau đó cha bà khiếu nại đến Ủy ban nhân dân (UBND) huyện N và UBND huyện đã ra quyết định hủy việc cấp GCNQSDĐ vì vậy diện tích đất này chưa ai đứng tên cũng như chưa có GCNQSDĐ. Mẹ bà chết không để lại di chúc, trước khi chết năm 2003 cha bà có làm di chúc phân chia cho các con, di chúc này được UBND xã P chứng thực. Khi cha bà chết diện tích đất ở, đất ruộng cũng như nhà thờ không có gì thay đổi. Hiện nay phần đất ruộng thì con trai bà đang canh tác, nhưng sau khi Tòa án xét xử thì ông T không cho trồng trọt trên đất nên đang bỏ hoang, còn phần diện tích 03 thửa đất 23 15 và 196 thì bà L và con bà L đang trồng mãng cầu, nho và táo. Trước yêu cầu khởi kiện của ông T thì bà không đồng ý chia thừa kế vì trước khi cha bà chết có làm di chúc để lại cho chị em bà.

Ngư i c uy n l i ngh a v li n uan à V âm Th im tr nh ày: Bà thừa nhận bị đơn trình bày về quan hệ huyết thống, hàng thừa kế cũng như toàn bộ tài sản của ông V Lâm K để lại và bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi vì, đối với yêu cầu chia thừa kế bà không đồng ý, khi cha bà chết đã có di chúc để lại tài sản cho bà và bà K, ông T không có phần. Đối với yêu cầu chia tài sản chung do hợp tác xã giao khoán, bà không đồng ý bởi vì thực tế những tài sản trên có nguồn gốc là của ông, bà để lại không có tài sản nào do hợp tác xã giao khoán.

Ngư i c uy n l i ngh a v li n uan à i u Th T tr nh ày: Bà là vợ của ông V Lâm T. Bà đồng ý với nội dung trình bày cũng như yêu cầu khởi kiện của ông V Lâm T.

Ngư i c uy n l i ngh a v li n uan ch V âm Th T tr nh ày: Chị là con của ông V Lâm T. Chị đồng ý với nội dung trình bày cũng như yêu cầu khởi kiện của ông V Lâm T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2018/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận quyết định:

Căn cứ vào: Điều 5, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 165, Điều 208, Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 , Điều 216, Điều 22 , Điều 224, Điều 46 , Điều 646, Điều 66

lu t dân s năm 2005; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ di chúc ông V Lâm K lập ngày 12 tháng Giêng năm 2003.

Lý do không chấp nhận: Di chúc lập ngày 12 tháng Giêng năm 2003 được ông V Lâm K lập trong tinh thần minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

- Thửa đất số 09 tờ bản đồ số 16a (tương ứng với thửa số 15, 23 tờ bản đồ số 5b bản đồ 299) nay là thửa số 32 tờ bản đồ số 16a xã P có diện tích 2.068,1 m2 đã được ông K định đoạt trong di chúc cho bà V Thị Lâm K có hiệu lực pháp luật.

Vị trí tứ cận: Đông giáp thửa 27; Tây giáp thửa 10, 11; Nam giáp con đường; Bắc giáp thửa 33 (K m theo trích lục bản đồ địa chính).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông V Lâm T đối với thửa 667 tờ bản đồ số 11 xã P (tương ứng với thửa đất số 196 tờ bản đồ 299).

- Giao cho bà V Lâm Thị K được quyền sử dụng 3.155,4m2 đất thuộc một phần thửa đất số 667 tờ bản đồ số 11 xã P nay là thửa đất số 703 tờ bản đồ số 11 xã P.

Vị trí tứ cận: Đông giáp mương; Tây giáp thửa 666, 665; Nam giáp thửa 637, 635; Bắc giáp thửa 704 (K m theo trích lục bản đồ địa chính).

- Giao cho bà V Lâm Thị Kim L được quyền sử dụng diện tích 2.217,8m2 thuộc một thửa đất số 667 tờ bản đồ số 11 xã P, nay thuộc thửa đất số 705 tờ bản đồ số 11 xã P.

Vị trí tứ cận: Đông giáp thửa 668; Tây giáp thửa 704; Nam giáp thửa 635; Bắc giáp mương (K m theo trích lục bản đồ).

- Buộc bà V Lâm Thị K phải hoàn lại chênh lệch cho ông V Lâm T số tiền 27.658.880 đồng.

- Buộc bà V Lâm Thị Kim L phải hoàn lại chênh lệch cho ông V Lâm T số tiền 2.344.320 đồng.

- Ông V Lâm T được quyền sở hữu số tiền 27.658.880 đồng do bà Khảnh hoàn lại và số tiền 2.344.320 đồng do bà L hoàn lại.

3. Chấp nhận yêu cầu phân chia tài sản thuộc sở hữu chung là quyền sử dụng đất của ông V Lâm T đối với các thửa đất số 76, 77 tờ bản đồ số 5 bản đồ 299, nay là thửa số 33 tờ bản đồ số 16a, thửa 371 tờ bản đồ số 16 bản đồ địa chính xã P và yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phân tài sản của ông V Lâm K trong khối tài sản chung:

- Giao cho ông V Lâm T, bà Kiều Thị T và chị V Lâm Thị T được quyền sử dụng chung thửa đất số 76, 77 tờ bản đồ số 5 bản đồ 299 nay là thửa số 33 tờ bản đồ số 16a có diện tích 3.499,5m2, vị trí tứ cận: Đông giáp bờ; Tây giáp thửa 27, 32; Nam giáp mương; Bắc giáp mương (K m theo trích lục bản đồ địa chính). Thửa đất số 371 tờ bản đồ số 16 bản đồ địa chính xã P có diện tích 934,9m2, vị trí tứ cận: Đông giáp thửa 225; Tây giáp mương; Nam giáp thửa 184; Bắc giáp thửa 222, 224 (K m theo trích lục bản đồ địa chính). Buộc bà V Lâm Thị K là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất có trách nhiệm giao lại cho ông V Lâm T, bà Kiều Thị T và chị V Lâm Thị T.

- Buộc ông V Lâm T, bà Kiều Thị T, chị V Lâm Thị T phải hoàn lại giá trị chênh lệch cho bà V Lâm Thị K số tiền 10.367.840 đồng.

- Buộc ông V Lâm T, bà Kiều Thị T, chị V Lâm Thị T phải hoàn lại giá trị chênh lệch cho bà V Lâm Thị Kim L số tiền 10.367.840 đồng.

- Bà V Lâm Thị K, bà V Lâm Thị Kim L m i người được quyền sở hữu số tiền 10.367.840 đồng do ông V Lâm T, bà Kiều Thị T, chị V Lâm Thị T hoàn lại.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo bản án của các đương sự.

Ngày 12/3/2018, bà V Lâm Thị K có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những vấn đề sau:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V Lâm T về việc chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do ông V Lâm K để lại và chia tài sản chung là quyền sử dụng đất.

2. êu cầu ông V Lâm T phải chuộc lại 01 bộ ván g Lai 4 tấm ông đã bán cho người khác với giá 70.000.000 đồng để làm tài sản chung nhà thờ của gia đình.

3. êu cầu ông V Lâm T trả lại số tiền tử tuất và số tiền trợ cấp theo chế độ người có công với cách mạng của ông V Lâm K sau khi ông K mất.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quy t v án: đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên lại nghĩa vụ hoàn trả cho phù hợp.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết “ hia tài sản chung là quyền s d ng đ t hia th a k quyền s d ng đ t theo pháp lu t” là có căn cứ.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều thừa nhận: cha là Võ Lâm K chết năm 2012, mẹ là Võ Thị L chết năm 1987. Cha mẹ có 02 con chung là Võ Lâm Thị K, Võ Lâm Thị Kim L và con riêng của cha là Võ Lâm T. Khi chết ông K có để lại những tài sản như sau: thửa đất số 76 tờ bản đồ 299 nay là thửa số 33 tờ bản đồ số 16a xã P có diện tích 3.499,5m2 (theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1265 (BL 130) và thửa đất số 77 tờ bản đồ 299 nay là thửa số 371 tờ bản đồ số 16 xã P có diện tích 943,9m2 (theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1266 (BL 129); Thửa 66 tờ ản đ s 11 P tương ng i th a s 196 tờ ản đ 299 , nay là các thửa số 703, 704, 705 theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1267 có diện tích 5.850m2 (BL 128); Th a đ t s 09 tờ ản đ địa ch nh s 16a P tương ng i th a s 2 , 1 tờ ản đ 299) nay là thửa số 32 tờ bản đồ số 16a xã P có nguồn gốc là do cha mẹ ông K để lại cho ông K có diện tích là 2.068,1m2 (theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1264 (BL 131).

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Võ Lâm Thị K nộp cho Tòa án: Tờ di chúc giao tài sản cho con, có nội dung: giao tài sản cho con gái lớn là Võ Lâm Thị K bao gồm ba căn nhà thờ, hai căn ở, bàn ghế, đồ thờ cúng; giấy tờ ruộng đất và tre chỉ nói tóm tắt, giấy tờ chiếu theo hai quyết định ngày 02/02/2009 và 07/02/2009 do Chủ tịch UBND huyện N giao cho con cất giữ (BL 165)

Xét thấy: Tờ di chúc giao tài sản cho con được đánh vi tính không ghi ngày tháng, có chữ ký của ông Võ Lâm K. Tại phiên tòa bà K không xác định thời gian ông K lập tờ di chúc, không xác định được ngày tháng lập di chúc, tờ di chúc đánh máy vi tính nhưng không có chữ ký của người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương nên không có giá trị pháp lý.

Th a đ t s 09 tờ ản đ địa ch nh s 16a P tương ng i th a s 23, 1 tờ ản đ 299 nay là th a s 32 tờ bản đ s 16a xã P có ngu n g c là do ông bà n i để lại cho ông Võ Lâm K có diện tích là 2.068,1m2. Khi chết ông K định đoạt trong di chúc năm 2003 cho bà Võ Lâm Thị K và hiện nay diện tích đất này bà K đang canh tác Tòa án cấp sơ thẩm công nhận diện tích đất này bà K được hưởng và giao cho bà K được quyền quản lý sử dụng là có căn cứ (BL 53).

Xét th a đ t 667 tương ng v i th a s 196 tờ bản đ 299 nay là các th a s 703, 704, 705 theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1267 có diện tích 5.850m2: các đương sự đều thừa nhận đây là đất do ông bà nội để lại cho ông Võ Lâm K trong đó có thửa 704 diện tích 476,8m2 là đất thổ mộ, nguyên đơn không yêu cầu chia. Còn lại diện tích 02 thửa 703 và 705 có diện tích 5.373,2m2 (cách tính: 5.850m2 - 476,8m2). Theo nội dung bản di chúc của ông K để lại ông K chỉ định đoạt bà K và bà L m i người được hưởng 1.500m2 (BL 53). Như vậy phần diện tích còn lại 2.373,2m2 [(cách tính 5.373, 2m2 – (1.500m2 x2)] ông K chưa định đoạt trong di chúc năm 2003.

Xét các th a đ t s 76 tờ bản đ 299 nay là th a s 33 tờ bản đ s 16a xã P có diện tích 3.499, m2 và th a đ t s 77 tờ bản đ 299 nay là th a s 371 tờ bản đ s 16 xã P có diện tích 943,9m2: bị đơn bà V Lâm Thị K cho r ng đây là đất của ông V Lâm K, nguyên đơn ông V Lâm T trình bày đây là đất HTX giao khoán năm 1993. Theo báo cáo xác minh số 140 ngày 06/11/2017 của UBND xã P có nội dung: các thửa đất số 33 và 371 có nguồn gốc là do HTX giao khoán vào năm 1993 cho 04 nhân khẩu của hộ ông Võ Lâm K là: ông Võ Lâm K (chủ hộ), Võ Lâm T, Kiều Thị T, Võ Lâm Thị T (BL 19, 20 21, 22, 112). Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của hộ theo quy định tại các điều 106,108 BLDS 2005 là có căn cứ. Ông Võ Lâm K chết không để lại di chúc. Ông Võ Lâm T yêu cầu chia tài sản chung của hộ và yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K là có cơ sở.

Theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận, Chi nhánh N số 1265, 1266 diện tích đất là tài sản chung là thửa số 33 tờ bản đồ số 16a xã P có diện tích 3.499,5 m2 và thửa đất số 371 tờ bản đồ số 16 xã P có diện tích 943,9 m2 có tổng diện tích 4.443,4 m2 được chia cho 04 người là ông K, ông T, bà T và bà T, m i người được 1.110,85m2 [(cách tính: 3.499,5m2 + 943,9m2) : 4] trị giá 31.103.800 đồng.

Di sản của ông Võ Lâm K để lại bao gồm: 2.373,2m2 phần diện tích chưa định đoạt trong bản di chúc [mục 2.4] và 1.110,85m2 phần diện tích đất trong khối tài sản chung là đất được HTX giao khoán [mục 2.6]. Ông Võ Lâm K chết năm 2012, căn cứ các điều 675, 676 BLDS 2005 phần di sản của ông Khuê chưa định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật cho 03 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K là: bà K, bà L và ông T. Đối với đất của ông bà để lại [mục 2.4]: ông T, bà K, bà L m i người được hưởng kỷ phần là 791,06m2 (cách tính 2.373,2m2 :3) trị giá là 25.313.920 đồng (Cách tính 791,06m2 x 32.000 đồng). Đối với đất được hợp tác xã giao khoán [mục 2.6]: ông T, bà K, bà L m i người được hưởng kỷ phần là 370,28m2 (cách tính 1.110,85m2 : 3) trị giá là 10.367.933 đồng (Cách tính 370,28m2 x 28.000 đồng).

Thửa 703 bà Võ Lâm Thị K đang quản lý sử dụng có diện tích 3.155,4m2, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà K được quyền quản lý sử dụng là phù hợp nhưng so với kỷ phần bà K được nhận là vượt quá kỷ phần của mình là 864,34m2 (cách tính 3.155,4m2 - 1.500m2 - 791,06m2) có trị giá b ng tiền là 27.658.880 đồng. Bà L đang quản lý sử dụng thửa 705 có diện tích 2.217,8m2 Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà L quản lý sử dụng thửa 705 là phù hợp nhưng so với kỷ phần thừa kế được nhận thì bà L còn thiếu 73,26m2 (cách tính 1.500m2 + 791,06m2

- 2.217,8m2) có trị giá là 2.344.320 đồng. Do vậy buộc bà K có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế 791,06m2 trị giá 25.313.920 đồng cho ông Võ Lâm T; bà K phải hoàn trả trị giá 73,26m2 tương ứng với số tiền 2.344.320 đồng bà Võ Lâm Thị Kim L là có căn cứ. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại buộc bà K hoàn trả 27.658.880 đồng trị giá 864,34m2 đất cho ông T và bà L phải hoàn trả 2.344.320 đồng trị giá 73,26m2 đất cho ông T là không đúng nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ sửa án về nội dung này.

Đối với phần diện tích đất được hợp tác xã giao khoán: kỷ phần thừa kế bà K bà L nhận được từ ông K m i người là 370,28m2 ít hơn so với phần ông T được nhận 1.481,13m2; ông T làm nghề nông có nhu cầu nhận đất để canh tác, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho ông T được nhận b ng hiện vật phần diện tích 1.110,85m2 là di sản của ông K trong khối tài sản chung và buộc ông T hoàn giá trị kỷ phần b ng tiền cho bà K, bà L là phù hợp. Cụ thể: buộc ông T phải hoàn lại cho bà K, bà L m i người số tiền 10.367.933 đồng (Cách tính 370,28m2 x 28.000 đồng). Các diện tích đất này bà K đang quản lý sử dụng nên buộc bà K giao lại cho ông T, bà T, chị T 02 thửa đất: số 33 tờ bản đồ số 16a xã P có diện tích 3.499,5m2 và thửa đất số 371 tờ bản đồ số 16 xã P có diện tích 943,9m2 có tổng diện tích 4.443,4m2. Trong đó: ông T được quyền quản lý, sử dụng 2.221,7m2 (phần của ông T và phần của ông K); bà T, chị T m i người được quản lý, sử dụng 1.110,85m2.

Đối trừ nghĩa vụ giữa bà Võ Lâm Thị K và ông V Lâm T như sau: bà K phải hoàn trả ông Thông 14.945.987 đồng [(cách tính 25.313.920 đồng (phần ông T được nhận thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất trong thửa 703) - 10.367.933 đồng (phần bà K được hưởng thừa kế của ông K trong diện tích đất giao khoán)]

Đối với các yêu cầu kháng cáo: êu cầu ông V Lâm T phải chuộc lại 01 bộ ván g Lai 4 tấm ông đã bán cho người khác với giá 70.000.000 đồng để làm tài sản chung nhà thờ của gia đình. êu cầu ông V Lâm T trả lại số tiền tử tuất và số tiền trợ cấp theo chế độ người có công với cách mạng của ông V Lâm K sau khi ông K mất. Tại giai đoạn sơ thẩm nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn không có yêu cầu phản tố và Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên; Sửa bản án sơ thẩm kể cả phần án phí.

Án phí:

Ông V Lâm T, Võ Lâm Thị K và bà V Lâm Thị Kim L m i người phải chịu 1.784.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia di sản thừa kế [(cách tính 25.313.920 đồng 10.367.933 đồng) x 5 ].

Ông V Lâm T, bà Kiều Thị T, chị V Lâm Thị T m i người phải chịu 1.555.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phân chia tài sản thuộc sở hữu chung (cách tính: 31.103.800 đồng x 5 ).

Do sửa án nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bà V Lâm Thị K sinh năm 1956 theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đương sự là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Kiều Thị T sinh năm 1968 là người khuyết tật nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bà T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Võ Lâm T, bà V Lâm Thị Kim L và bà V Lâm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các điều 108, 223, 224, 646, 653, 674, 675, 684, 685, 733, 735 Bộ luật dân sự năm 2005; Các điều 147, 164, 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm; Các điều 12, 27, 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Lâm T về việc hủy bỏ di chúc của ông V Lâm K lập ngày 12 tháng Giêng năm 2003.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của ông V Lâm T như sau:

- Giao cho bà V Lâm Thị K được quyền quản lý, sử dụng 2.068,1m2 đất thuộc thửa số 32 tờ bản đồ số 16a xã P đã được ông V Lâm K định đoạt trong di chúc ngày 12 tháng Giêng năm 2003 theo Trích l c bản đ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn ph ng đăng ký đ t đai Ninh Thu n, Chi nhánh N s 1264.

- Giao cho bà V Lâm Thị K được quyền sử dụng 3.155,4m2 đất thuộc một phần thửa đất số 667 tờ bản đồ số 11 xã P nay là thửa đất số 703 tờ bản đồ số 11 xã P theo Trích l c bản đ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn ph ng đăng ký đ t đai Ninh Thu n, Chi nhánh N s 1267.

- Giao cho bà V Lâm Thị Kim L được quyền sử dụng diện tích 2.217,8m2 thuộc một thửa đất số 667 tờ bản đồ số 11 xã P, nay thuộc thửa đất số 705 tờ bản đồ số 11 xã P theo Trích l c bản đ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn ph ng đăng ký đ t đai Ninh Thu n, Chi nhánh N s 1268.

- Giao cho ông V Lâm T, bà Kiều Thị T và chị V Lâm Thị T được quyền quản lý, sử dụng chung thửa đất số 76, 77 tờ bản đồ số 5 bản đồ 299 nay là thửa số 33 tờ bản đồ số 16a có diện tích 3.499,5m2 và thửa đất số 371 tờ bản đồ số 16 bản đồ địa chính xã P có diện tích 934,9m2. Trong đó: ông T được quyền quản lý, sử dụng 2.221,7m2 (phần của ông T và phần của ông K); bà T, chị T m i người được quản lý, sử dụng 1.110,85m2 theo Trích l c bản đ địa chính ngày 26/7/2017 của Văn ph ng đăng ký đ t đai Ninh Thu n, hi nhánh Ninh hư c s 1265, 1266.

Buộc bà V Lâm Thị K là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất 33, 371 phải giao lại cho ông V Lâm T, bà Kiều Thị T và chị V Lâm Thị T.

- Buộc bà V Lâm Thị K phải hoàn trả cho ông V Lâm T số tiền 14.945.987 đồng (Mười b n triệu ch n trăm n mươi lăm ngàn ch n trăm tám mươi bảy đ ng) .

- Buộc bà V Lâm Thị K phải hoàn trả cho bà V Lâm Thị Kim L 2.344.320 đồng (Hai triệu a trăm n mươi n ngàn a trăm hai mươi đ ng).

- Buộc ông V Lâm T phải hoàn trả cho bà V Lâm Thị Kim L số tiền 10.367.933 đồng (Mười triệu a trăm sáu mươi ảy ngàn ch n trăm a mươi ba đ ng).

Các đương sự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20 /năm; nếu không có thỏa thuận thì theo m c lãi su t 10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

V n ph :

Ông V Lâm T và bà V Lâm Thị Kim L m i người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là 1.784.000 đồng (M t triệu bảy trăm tám mươi n ngàn đ ng).

Ông V Lâm T, chị V Lâm Thị T m i người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung là 1.555.000 đồng (M t triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn đ ng).

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà V Lâm Thị K.

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Kiều Thị T.

Hoàn trả cho bà V Lâm Thị K số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng ( a trăm ngàn đ ng) theo Biên lai thu tiền số 0016001 ngày 22/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ